View Full Version : Di sản VHTG ở Việt Nam
bevuichat
27-11-2006, 16:42
Khu đền tháp Mỹ Sơn - Di sản Văn hoá Thế giới
http://www.webdulich.com/images_upload/a_myson-1-225182.jpg
Khu đền tháp Mỹ Sơn thuộc xã Duy phú - huyện Duy Xuyên, nằm cách Hội An 45 km về phía tây, cách Đà Nẵng 70km về phía tây nam.
Năm 1898, một người Pháp tên là M.C Paris đã phát hiện khu đền tháp Mỹ Sơn nằm kín đáo trong một thung lũng hẹp, giữa những khu rừng rậm rạp. Sau đó không lâu, những nhà khoa học của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã đến nghiên cứu các bia ký và công trình kiến trúc, điêu khắc ở Mỹ Sơn. Cũng chính họ đã vén lên bức màn bí mật về Mỹ Sơn và cho thấy đây là khu di tích tôn giáo kỳ vĩ nhất, đặc trưng nhất của người Champa, xây dựng liên tục trong suốt hơn 1000 năm. Được khởi công từ thế kỷ 4 bởi vị vua Bhadravarman (trị vì từ năm 349 đến năm 361) và kết thúc vào cuối thế kỷ thứ 13, đầu thế kỷ 14 dưới triều vua Jaya Simhavarman III (Chế Mân), Mỹ Sơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương quốc Champa. Hầu hết các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tại Mỹ Sơn đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo. Các đền tháp phần lớn quay về hướng đông - phương mặt trời mọc, chỗ trú ngụ của thần linh; ngoại trừ một vài tháp quay về hướng tây hoặc cả hai hướng đông - tây, thể hiện tư tưởng hướng về thế giới bên kia của các vị vua sau khi chết được phong thần và để tỏ lòng hoài niệm tổ tiên.
Do thiên tai, địch họa và sự tàn phá của bom đạn chiến tranh, đến nay Mỹ Sơn chỉ giữ lại được khoảng gần 20 tháp. Tuy nhiên, tất cả tài liệu bia ký, kết quả khảo cổ, dấu tích vật chất còn lưu lại tại Mỹ Sơn và một số bảo tàng trong nước như bảo tàng Champa Đà Nẵng, bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh ... cũng đủ làm cho chúng ta vô cùng thán phục về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và trang trí của người Champa cổ xưa. Đăc biệt, cho đến nay kỹ thuật kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ Sơn vẫn là một bí ẩn luôn kích thích sự tìm tòi, nghiên cứu và đam mê khám phá của các nhà khoa học cũng như đối với mỗi chúng ta.
Không đồ sộ, kỳ vĩ như Ăngkor (Campuchia), Pagan (Myanma), Borobudua (Indonesia)... nhưng Mỹ Sơn vẫn có một vị trí rất quan trọng trong nền văn hóa nghệ thuật của vùng Đông Nam Á. Tháng 12 năm 1999, cùng với đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO ghi tên vào danh mục các di sản văn hóa thế giới. Mỗi năm, Mỹ Sơn đón hàng trăm nghìn lượt khách đến tham quan du lịch, nghiên cứu.
Nguồn tin: Quảng Nam
bevuichat
27-11-2006, 16:44
Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hoá thế giới
Cồng chiêng nay càng trở nên thiêng liêng hơn đối với người dân tộc ít người Việt Nam
Ngày 25/11/2005, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Côichirô Mátxura đã trân trọng trao bằng công nhận kiệt tác di sản phi vật thể "Văn hóa cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên-Việt Nam" cho ông Vũ Đức Tâm, Đại sứ Việt Nam bên cạnh UNESCO tại trụ sở của tổ chức này ở thủ đô Pari (Pháp).
Đây là lần thứ 3 UNESCO công bố các kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại từ năm 2003. Năm nay, phiên họp xét công nhận các kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại của UNESCO diễn ra trong các ngày 20-24/11, với Hội đồng giám khảo gồm 18 thành viên, do Công chúa Bátxma Bin Talan của Gioócđani làm Chủ tịch.
Trong số 64 hồ sơ ứng cử viên của các quốc gia hay nhóm quốc gia (tổng cộng gồm 74 nước), có 43 kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã được UNESCO công nhận và Văn hóa cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên-Việt Nam là một trong kiệt tác di sản xuất sắc đó.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Pháp ngay sau khi nhận bằng công nhận, Đại sứ Vũ Đức Tâm vui mừng nêu rõ đây là một niềm vui và vinh dự lớn đối với đất nước Việt Nam, đất nước giàu truyền thống văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng đồng thời, với vinh dự này, chúng ta càng nhận thấy rõ trách nhiệm nặng nề hơn trong việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị của các di sản phi vật thể và truyền khẩu đã được UNESCO công nhận, để ngày càng xứng đáng hơn với danh hiệu cao quý này, để những kiệt tác nghệ thuật độc đáo của Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế và giờ đây là Văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên-Việt Nam được quảng bá và giới thiệu rộng rãi hơn trên thế giới.
Theo Đại sứ Vũ Đức Tâm, sau 3 lần công bố các di sản phi vật thể và truyền khẩu nhân loại, UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế và văn hóa cồng chiêng các dân tộc Tây Nguyên của Việt Nam. Điều này cho thấy Việt Nam đã được tổ chức giáo dục-khoa học-văn hoá lớn nhất thế giới này công nhận là một đất nước có bề dày truyền thống văn hóa, có nhiều nghệ thuật truyền thống cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy.
Như vậy, cho đến nay, Việt Nam đã có tổng cộng 7 di sản thiên nhiên và văn hóa vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Quần thể hang động Phong Nha-Kẻ Bàng, quần thể Cố đô Huế, phố cổ Hội An, khu di tích Mỹ Sơn, Nhã nhạc cung đình Huế và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên./.
Nguồn tin: Báo Công an Tp.HCM
bevuichat
27-11-2006, 16:45
Đèn lồng Hội An đến Hollywood
http://www.webdulich.com/images_upload/denlongha23098.gif
Đến Hội An, ngoài việc tìm hiểu và chiêm ngưỡng phố cổ, thưởng thức cao lầu đặc sản hay tìm chút thư giãn với dòng nhạc cổ điển ở quán bar Tam Tam..., khi màn đêm buôn xuống, du khách còn được tận hưởng những sắc màu lung linh huyền ảo, trữ tình bởi những chiếc đèn lồng xinh xắn. Đèn lồng truyền thống là một trong những sản phẩm độc đáo của Hội An - di sản văn hóa thế giới.
Những ngày có mặt ở phố cổ Hội An, chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất đèn lồng Ngọc Thu, một trong những địa chỉ quen thuộc đối với du khách khi đến đây. Chủ cơ sở Tăng Ngọc Thu và chị Phan Thị Tâm Thuận đã có ý tưởng rất độc đáo trong việc sản xuất nhiều loại đèn lồng truyền thống Hội An. Hiện nay đèn lồng của cơ sở Ngọc Thu đã được xuất sang các quốc gia như Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Úc... Có mặt ở các triển lãm, hội chợ Đà Nẵng, Festival Huế và đã vào Sài Gòn từ năm 1997. Đặc biệt, trong năm qua phim trường Hollywood - Hoa Kỳ đã đặt cơ sở Ngọc Thu sản xuất 300 chiến đèn lồng loại lớn để làm cảnh trong phim và được báo chí nước ngoài, trong đó có báo chí Úc giới thiệu cả trang báo khổ lớn. Hiện
Cơ sở sản xuất đèn lồng Ngọc Thu - Hội An
nay cơ sở Ngọc Thu đã sản xuất được các loại đèn lồng bằng khung kim loại, đèn lồng sân vườn, đèn lồng trang trí trong nhà, đèn lồng lễ hội - đường phố và nhiều loại đèn lồng khác. Anh Tăng Ngọc Thu nói về cảm nghĩ của mình: “Trong mối quan hệ giao thương với Việt Nam khoảng thế kỷ 16-17, nhiều thương gia từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Ấn Độ... đã góp phần tạo nên nền văn hóa đặc sắc của thương cảng Hội An.
Đèn lồng Hội An là kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc mà giá trị và hình dáng đặc trưng của nó đã trở nên nổi tiếng. Được tạo ra thoạt tiên với mục đích phục vụ nhu cầu cuộc sống, đèn lồng dần trở nên tinh xảo qua bàn tay tài tình của các nghệ nhân và giá trị hình tượng của nó”.
Cơ sở Ngọc Thu đã góp phần quảng bá hình ảnh Hội An với bạn bè quốc tế...
Địa chỉ liên lạc: 109 Trần Phú - Hội An - Quảng Nam. ĐT: (84 510) 861964, Fax: (84 510) 910990. H/P: 0905116219.
E-mail: ngocthu109@pmail.vnn.vn - contact@ngocthuhoianlantern.com .
Website: www.ngocthuhoianlantern.com
Nguồn tin: Nguồn Báo Công an Tp.HCM
bevuichat
27-11-2006, 16:45
Bến Tre: Phát hiện nhiều di vật cổ ở di chỉ Giồng Nổi
Viện Khảo cổ học Việt Nam Bảo tàng tỉnh Bến Tre ngày 02/7/2005 đã tổ chức báo cáo kết quả khai quật di chỉ Giồng Nổi tại xã Bình Phú, thị xã Bến Tre lần thứ 2 năm 2005.
Cuộc khai quật lần này được thực hiện trên diện tích 213 m² trong một khu vườn tại xã Bình Phú, phát hiện nhiều di vật còn nguyên vẹn, trong số này có nhiều cái hết sức độc đáo, là tiêu bản duy nhất lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam như cốc đáy nhọn có hoa văn trang trí đẹp, bùa đeo bằng gốm, bát nhỏ dạng mâm bồng, gáo đất nung có tay cầm... Các nhà khoa học đã đi đến kết luận, di chỉ khảo cổ học Giồng Nổi có niên đại thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt.
Nguồn tin: Nguồn báo Đồng Nai
bevuichat
27-11-2006, 16:46
Di tích lịch sử Vạn Thuỷ Tú (Bình Thuận)
Vạn Thủy Tú được ngư dân Thủy Tú thiết lập bắt đầu vào năm Nhâm Ngọ 1762 để thờ Ông (cá voi) với chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, Võ Ca bố trí theo hình chữ Tam mặt chính quay ra hướng Ðông. Lúc mới xây dựng xong cửa Vạn sát ngay bờ biển, ngày nay bờ biển đã dời xa ra ngoài hơn 100 m. Hiện nay Vạn Thủy Tú tọa lạc trên đường Ngư Ông, phường Ðức Thắng, thành phố Phan Thiết.
Chức năng của đình làng thường xây dựng để thờ Thành Hoàng làng và đình làng thường đi liền với các làng mạc nông nghiệp, còn Vạn, Dinh lại thờ cá Ông (cá Voi) và thường được xây dựng ngay sát bờ biển của các làng Ngư. Thờ cá Ông, mà theo họ đó là vị Thần thường cứu giúp ngư dân mỗi khi gặp nạn trên biển, là vị Thần thủy chung với ngư dân nên được ngư dân kính yêu và tôn trọng. Xuất phát từ những lễ nghi tín ngưỡng xưa của người Chăm, nên tín ngưỡng dân gian gắn với tín ngưỡng nghề nghiệp từ đời này qua đời khác theo phong tục và truyền thống của ngư dân.
Vạn Thủy Tú từ ngày xưa dựng xong đến nay đã chứa gần 100 bộ xương cá Voi và nhiều loài khác cùng họ. Quá nửa có niên đại trên 100 - 150 năm, trong đó có những bộ xương to lớn được thờ phụng tôn nghiêm.
Trong khuôn viên của Vạn có một doi đất rộng, dùng để mai táng cá Ông mỗi khi ông "lụy" và dạt từ biển vào. Mỗi lần mai táng xong, sau 3 năm mới được thương cốt, nhập tẩm theo phong tục. Trong số ngư dân hễ người nào trông thấy "Ông" trước là người đó được làm "con trưởng" của Ngài, và người này phải lo làm đám tang chu đáo, để tang sau 3 năm mới hết hạn v.v… Ðiều đó cho thấy những phong tục, cử chỉ của ngư dân đối với cá Ông theo tín ngưỡng gần như quan hệ giữa người với người.
Vạn Thủy Tú là một trong những Dinh, Vạn cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận, được ngư dân làm nghề biển coi như Thủy tổ nghề biển. Trong Vạn chứa nhiều di sản văn hóa Hán - Nôm liên quan đến nghề biển, thể hiện trong nội dung thờ phụng ở các khám thờ, tượng thờ, hoành phi, liên đối, trên văn khắc của Ðại hồng chung. Vạn Thủy Tú là một trong những di tích cổ có số lượng lớn, sắc phong của các vị Vua Triều Nguyễn ban tặng để thờ cá Ông và các vị Hải Thần, vì trước đây trong chiến tranh phong kiến với nghĩa quân Tây Sơn, các tướng lĩnh nhà Nguyễn đã nhiều lần được cá Voi cứu nạn trên biển. Có 24 sắc phong của các đời vua : Thiệu Trị, Tự Ðức, Ðồng Khánh, Duy Tân, Khải Ðịnh, riêng Vua Thiệu Trị (1841 - 1847) đã ban tặng 10 sắc Thần là điều hiếm thấy so với các di tích khác.
Vạn Thủy Tú đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1996.
Do nhu cầu nghiên cứu, tham quan của các nhà nghiên cứu, của du khách và để bảo tồn bộ xương cá Voi xưa nhất, lớn nhất ở Vạn Thủy Tú, hiện nay ở đây đang xúc tiến việc xây dựng một dãy nhà trưng bày và bảo quản, gắn với việc trùng tu tôn tạo lại các hạng mục của di tích.
Nguồn tin: Nguồn Bình Thuận
bevuichat
27-11-2006, 16:47
Đầu tư 3,5 triệu USD bảo tồn Cố đô Huế
http://www.webdulich.com/images_upload/hue122671.jpg
Bộ Văn hóa Thông tin, Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế và Viện Di sản Thế giới thuộc Đại học Waseda (Nhật Bản) vừa quyết định xây dựng dự án nghiên cứu , đào tạo và bảo tồn khu di tích cố đô Huế với tổng kinh phí đầu tư lên tới 3,5 triệu USD trong thời gian 3 năm (2005 - 2008).
Theo dự án này, phía Viện Di sản Thế giới đóng góp 3,1 triệu USD từ ngân sách của chương trình Tài trợ Nghiên cứu Khoa học ngoài biên giới, do Bộ Giáo dục Khoa học Nhật Bản cấp. Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế với nguồn vốn đối ứng là 400.000 USD chủ yếu trích từ nguồn thu hàng năm từ vé thăm quan và các hoạt động dịch vụ khác. Đây là dự án có số vốn đầu tư nước ngoài dành cho bảo tồn văn hóa lớn nhất từ trước đến nay.
Trong suốt 10 năm qua Viện Di sản Thế giới thuộc Đại học Waseda đã hợp tác với Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế trong việc bảo tồn khu di sản thế giới này.
Với dự án này, hai bên sẽ thực hiện dự án với các mục tiêu như: Góp phần xây dựng chính sách hợp tác quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa giữa VN và Nhật Bản, Nghiên cứu bảo tồn thành phố sinh thái - lịch sử trong mối liên kết với quần thể di tích Huế, Giới thiệu ứng dụng phương pháp và công nghệ bảo tồn của Nhật Bản vào hoàn cảnh thực tiễn của VN, Thiết lập Trung tâm nghiên cứu đào tạo và bảo tồn cho khu di sản Huế, đào tạo cán bộ chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa cho tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nguồn tin: Theo Hà Nội Mới
bevuichat
27-11-2006, 16:48
Nhà thờ Tân Định, vẻ đẹp giữa lòng thành phố
http://www.webdulich.com/images_upload/news_tandinh-16922652.jpg
Nhà thờ Tân Định là công trình tiêu biểu của sự pha trộn nhiều phong cách nghệ thuật kiến trúc khác nhau. Được khánh thành ngày 16/12/1876, nhà thờ Tân Định là một trong những công trình tôn giáo được xây dựng sớm ở Sài Gòn.
Công trình này luôn được sửa chữa, nới rộng trong nhiều đợt khác nhau nhưng không hề xóa đi kiến trúc ban đầu. Năm 1896, nhà thờ được nối thêm hai căn và hai hàng ba có xây tường chung quanh.
Từ năm 1926, Thánh đường được nới rộng thêm. Cũng trong thời điểm này, tháp chuông nhà thờ được xây dựng cạnh công lộ Hai Bà Trưng, cao 52,62m. Trên tháp chuông có sáu cỗ chuông quí. Ngày 6/01/1929, nhà thờ Tân Định nhận được ba bàn thờ cẩm thạch trị giá 50.000 quan do một gia đình tặng. Đây là những bàn thờ được làm toàn bằng cẩm thạch Ý. Năm 1949, sườn nhà thờ được chỉnh sửa lại, thay đổi kèo và đòn tay bằng sắt. Năm 1957, sân nhà thờ được trải đá và
tráng nhựa. Tháng 12/1976, để kỷ niệm 100 năm xây dựng, nhà thờ Tân Định được sơn lại, gỡ bỏ các hàng rào sắt. Đồng thời Cung thánh cũng được đổ cao hơn, tráng lại bằng đá mài màu xanh cho hợp với các cột chung quanh. Một công trình khác cũng được thực hiện vào thời gian này là sửa và sơn lại tháp chuông, tô lại trần. Với màu hồng đặc trưng, tháp chuông cao vút của nhà thờ Tân Định luôn nổi bật trên nền trời xanh thẳm trông rất đẹp mắt. Tháng 7/1999 và tháng 9/2000, nhà thờ Tân Định tiếp tục được sơn lại cả bên ngoài và bên trong.
Tọa lạc trên một đường phố nhộn nhịp người xe qua lại, nhà thờ Tân Định với kiến trúc đẹp mắt từ những vòm cung cong cong cho đến các chi tiết chạm khắc tinh xảo. Vào mỗi buổi chiều tà, khi chuông thánh đường ngân từng hồi thánh thót, mây trắng bay về từng cụm, tháp chuông nhà thờ như in trên bầu trời một vệt dài thăm thẳm.
Nguồn tin: Nguồn Báo Công an Tp.HCM
bevuichat
27-11-2006, 16:49
Phát hiện một phế tích cổ tại Nam Định
http://www.webdulich.com/images_upload/namdinh_122649.jpg
Phế tích của một kiến trúc cổ cùng hàng trăm hiện vật quý giá vừa được phát hiện tại địa điểm cách chùa Tháp Phổ Minh (Nam Định) 200m về hướng tây. Theo phỏng đoán của ông Nguyễn Văn Thư, Giám đốc Bảo tàng Nam Định và ông Hoàng Văn Cương - người chủ trì cuộc khảo sát cho biết, di tích này có thể liên quan đến hành cung Thiên Trường đời Trần.
Địa điểm tìm thấy di tích là một chiếc ao nằm ngay cạnh con đường nối từ làng Tức Mặc tới làng La (phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ao này có diện tích khoảng 350m2, vốn là ruộng lúa của người dân.
Theo ông Nguyễn Văn Thư, mới qua khảo sát đã phát hiện tại di tích này hàng trăm hiện vật, gồm các loại gạch ngói, một số vại, vò và các chi tiết trang trí kiến trúc bằng đất nung như uyên ương, cổ rồng, lá đề... Đặc biệt, trong đó có một số hiện vật lần đầu xuất hiện trên "lãnh địa đồ cổ" Nam Định. Đó là một chiếc bình đất nung, cao 23,5cm, chu vi 53,5cm, miệng và đế loe, cổ thon, vai xuôi, thân phình, hình dáng như búp sen. Ngoài ra, còn tìm được một đỉnh đất nung và một tiêu bản tượng uyên ương còn khá nguyên vẹn. Đầu uyên ương ngẩng cao, có các hoạ tiết trang trí phỏng theo đầu rồng, 2 cánh xoè rộng, đuôi hất cong về phía trước...
Hầu hết các hiện vật tìm thấy được đều có niên đại thời Trần, thế kỷ XIII - XIV, một số có niên đại thế kỷ XII. Mật độ phân bố hiện vật rất đậm đặc.
Ông Nguyễn Văn Thư cho biết, hiện bản tàng Nam Định đang hoàn chỉnh báo cáo về cuộc khảo sát này để trình Cục Di sản (Bộ VHTT), xin phép được tiến hành khảo cổ.
Nguồn tin: Nguồn HTV
bevuichat
27-11-2006, 16:50
Một công trình kiến trúc chìm trong lòng đất
http://www.webdulich.com/images_upload/Binhdinh22644.jpg
Hố khai quật sát cạnh điện Bát Giác
Bảo tàng Bình Định và Viện Khảo cổ VN đang khai quật thành Hoàng Đế tại xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Kết quả của đợt khai quật này giúp cho các nhà khảo cổ và những người nghiên cứu lịch sử có cái nhìn toàn diện hơn về một cung điện thời Tây Sơn bị vùi trong lòng đất cách nay hơn 200 năm.
Một kinh đô bị chôn vùi
Theo sử liệu, thành Hoàng Đế do vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) bắt đầu xây dựng từ năm 1776. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), những gì liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa sạch dấu vết. Thành đã bị nhà Nguyễn san phẳng.
Trên mặt bằng của điện Bát Giác - nơi vua Thái Đức thiết triều - hiện nay là ngôi mộ của Võ Tánh - một viên tướng của Nguyễn Ánh đã tử trận trong cuộc huyết chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn ngay tại thành Bình Định năm 1801.
Nơi chôn Võ Tánh (lăng Ông) và thành Hoàng Đế của nhà Tây Sơn đã bị chôn vùi trong quên lãng. Cả một công trình kiến trúc khá quy mô bị đổ nát hoàn toàn không phải do mưa nắng của thời gian mà là kết quả phủ định của vương triều sau đối với vương triều trước đó. Đây là nét khác biệt về sự tồn tại giữa thành Hoàng Đế của nhà Tây Sơn với các kinh đô khác của chế độ phong kiến VN.
Công trình kiến trúc quy mô
Năm 2004, Bảo tàng Bình Định tiến hành khai quật lần đầu tiên trong khuôn viên của Tử Cấm Thành và bất ngờ phát hiện bên phải của điện Bát Giác có một hồ bán nguyệt còn nguyên vẹn. Năm nay, các nhà khảo cổ tiếp tục khai quật ở ba hố đào thám sát.
Tại hố đào sát cạnh điện Bát Giác, cả một mái hiên của cung điện này đã hiện ra. Ngoài phần đá móng và gạch lát nền còn có một hàng cột trước mái hiên mà dấu vết còn lại chỉ là những lỗ rỗng. Ơ gần đó, người ta cũng phát hiện một công trình kiến trúc khác với những đường nét xây dựng khá tinh tế.
Cách chừng 200 mét phía trước cung điện là một thủy hồ. Trong lòng hồ, người ta đã tìm thấy một hiện vật hình chiếc bát được chạm khắc rất công phu, vẫn chưa xác định được công dụng của hiện vật này.
Những gì thu được từ các hố đào sẽ giúp cho các nhà sử học hình dung được phần nào bố cục của cả thành Hoàng Đế. Theo "Đồ Bàn thành ký" của Nguyễn Văn Hiển - đốc học Bình Định năm 1856 thì trong Tử Cấm Thành của thành Hoàng Đế, ngoài điện Bát Giác còn có toà chính điện, nhà thờ tổ, hai bên có dãy hành lang - nơi chầu của các quan văn, võ...
Những gì thu được từ đợt khai quật đã góp phần khẳng định những sử liệu đã ghi lại về thành Hoàng Đế là hoàn toàn chính xác. Theo đánh giá của tiến sĩ Lê Đình Phụng (Viện Khảo cổ) thì đây là công trình kiến trúc thời Tây Sơn duy nhất còn lại ở nước ta, quy mô cũng lớn hơn một số công trình liên quan đến kiến trúc cung đình thời phong kiến được khai quật trước đây.
Trong tiến trình trùng tu các di tích tại Bình Định, ngành văn hóa thông tin tỉnh này đã có kế hoạch phục dựng lại một phần của thành Hoàng Đế. Ông Văn Trọng Hùng - Giám đốc Sở VHTT Bình Định cho biết: "Dựa trên số liệu báo cáo của các nhà khảo cổ học và các nhà nghiên cứu lịch sử từ đợt khai quật này cũng như các tài liệu liên quan, chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc hội thảo khoa học để lấy ý kiến từ các nhà nghiên cứu trước khi quyết định phục dựng một số công trình kiến trúc trong thành Hoàng Đế".
Còn tiến sĩ Lê Đình Phụng thì tỏ ra cẩn thận: "Thành Hoàng Đế mang đặc thù là các di tích lại chồng lên nhau, cần phải bóc tách ra để có cái nhìn toàn diện hơn. Dẫu sao thì những gì phát hiện tại thành Hoàng Đế đã giúp cho chúng ta có một bộ sưu tập về kiến trúc cung đình khá toàn diện về các vương triều phong kiến VN".
Nguồn tin: Theo Lao động
bevuichat
27-11-2006, 16:51
Thừa Thiên-Huế - Nơi bảo tồn những giá trị văn hóa cung đình
http://www.webdulich.com/images_upload/hue22625.jpg
Nằm cách thủ đô Hà Nội 660km về phía Bắc, với diện tích khoảng 5.000km2, tỉnh miền Trung Thừa Thiên-Huế hấp dẫn du khách ngoài sự đa dạng về cảnh quan, thiên nhiên còn là nơi lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa cung đình gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm và cả một kho tàng âm nhạc của các vua triều Nguyễn.
Năm 1993, những di tích kiến trúc Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới và đến tháng 11/2003, Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO đã công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Huế đã từng là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà nước phong kiến Việt Nam trong hơn 400 năm. Bắt đầu từ khi vua Quang Trung chọn làm kinh đô của triều đại Tây Sơn (1788-1802), vua Gia Long chọn làm kinh đô của Triều Nguyễn (1802-1945).
Nhìn chung, đại đa số các công trình kiến trúc cung đình đều nằm ở bờ Bắc Sông Hương. Ðó là các thành quách (Kinh thành, Hoàng thành, Tử Cấm thành), trong đó có hàng trăm cung điện và quan thự để triều đình và hoàng gia làm việc và ăn ở. Ở phía Nam Sông Hương là vùng đồi núi rộng hơn 20.000ha dùng dể xây dựng lăng tẩm, đàn, miếu, chùa chiền, trong đó nổi tiếng nhất là bốn ngôi lăng và kiến trúc của nó phù hợp với tính cách của mỗi vị vua chủ nhân của nó, lăng Gia Long uy nghi; lăng Minh Mạng oai phong, lăng Tự Đức thơ mộng và lăng Khải Định tráng lệ.
Điện Thái Hòa
Phần lớn những tư dinh của các quan lại, những phủ đệ của các hoàng thân quốc thích, nhà cửa của các tao nhân mặc khách đều tập trung ở một số phường xóm ven Kinh thành như Kim Long, Vỹ Dạ, Gia Hội, An Cựu... Rải rác đó đây ở khắp Kinh Đô Huế còn có rất nhiều công trình kiến trúc có giá trị khác. Ðể phòng thủ về mặt biển và phía Nam, triều đình đã cho xây Trấn Hải Thành ở Cửa Thuận An (năm 1813 thời Gia Long), Hải Vân Quan ở Đèo Hải Vân (năm 1826 thời Minh Mạng)... ở gần Kinh thành hơn, có Văn Miếu, Võ Miếu, Đàn Nam Giao, Hổ Quyền, Điện Voi Ré…
Hầu khắp các cụm công trình và từng công trình kiến trúc, từ thành quách đến lăng tẩm, từ cung điện đến đình chùa, từ quan thự đến nhà vườn, đều được điểm xuyết bởi các phong cảnh thiên nhiên hoặc nhân tạo như sông núi, hồ ao, cây cối, cỏ hoa. Nhìn chung, các loại hình kiến trúc cung đình và dân gian ở Kinh Đô Huế đều được qui hoạch, xếp đặt và cấy vào bối cảnh thiên nhiên một cách có hệ thống, mạch lạc, chặt chẽ, thích hợp và hài hòa.
Huế còn là một trung tâm quan trọng của Ðạo Phật. Ở Huế và những vùng lân cận có trên 1.000 ngôi chùa Phật lớn, nhỏ có giá trị kiến trúc và nghệ thuật cao, trong đó có hàng chục ngôi chùa được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ 20. Nổi bật nhất là chùa Thiên Mụ, chùa Diệu Đế, chùa Từ Đàm.
Nét đặc trưng của văn hóa ở Thừa Thiên-Huế còn là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa dân gian và văn hóa cung đình. Những điệu hò, điệu lý dân gian đã được tiếp thu và cải biên phục vụ cho vua chúa trở thành ca, múa nhạc cung đình có giá trị nghệ thuật cao.
Sông Hương
Huế còn có nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức công phu, bài bản khiến du khách rất thích thú. Có thể kể ra một số lễ hội tiêu biểu như lễ hội Điện Hòn Chén, suy tôn Thiên Y A Na Thánh Mẫu (Mẹ Xứ Sở) là người đã sáng tạo ra đất đai, cây cối và dạy dân cách trồng trọt, canh tác; lễ hội Cầu ngư, tưởng nhớ vị Thành hoàng làng Thai Dương Hạ có công dạy dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành; hội vật võ làng Sình; hội đua thuyền và hội thả diều./.
Nguồn tin: Nguồn TTXVN
bevuichat
27-11-2006, 16:52
Thừa Thiên - Huế
http://www.webdulich.com/images_upload/dstgovn-t22143.rism29-9.1.jpg
Diện tích : 5 054 km2
Dân số (2002): 1 091 600 người.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế có các huyện Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Ðông, A Lưới và thành phố Huế.
Huế là một trong những vùng có nhiều di sản văn hoá. Ðến nay, không còn một vùng nào có một số lượng lớn các di tích mà những di tích này vẫn giữ được hình dạng vốn có của nó như ở cố đô này.
Ở bờ phía Bắc của sông Hương là một di tích gồm những lâu đài được xây dựng theo kiểu phòng thủ tạo thành một đường vòng cung dài 11km. Công trình quí giá này gồm hơn một 100 tác phẩm kiến trúc, đã thực sự phản ánh được cuộc sống của vua quan nhà Nguyễn. Giữa những quả đồi ở bờ Nam sông Hương là những lăng tẩm rất đẹp của các vua Nguyễn. Trong số đó nổi tiếng nhất là bốn lăng tẩm mà mỗi lăng được biết đến với cái tên phù hợp với tính cách của mỗi vua và kiểu kiến trúc của mỗi lăng. Ðó là lăng Gia Long uy nghi, lăng Minh Mạng oai phong, lăng Tự Ðức thơ mộng và lăng Khải Ðịnh tráng lệ.
Huế đồng thời còn là một trung tâm quan trọng của Ðạo Phật. ở Huế và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại hàng chục chùa đã được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ.
Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và nghề thủ công tinh xảo.
Là thành phố duy nhất trong nước vẫn còn giữ được dáng vẻ của một thành phố thời Trung cổ và nguyên vẹn kiến trúc của một nền quân chủ. Huế đã trở thành một bảo tàng lớn và vô giá. Chính vì vậy, chính phủ đã xếp hạng các di tích ở cố đô Huế như là một tài sản vô cùng quí giá và tháng 12 năm 1993 Huế đã được UNESCO xếp hạng là di tích văn hóa thế giới.
Nguồn tin: www.vietnamtourism.com
bevuichat
27-11-2006, 16:53
Động Phong Nha - chốn thần tiên
http://www.webdulich.com/images_upload/dstgovn-t22141.rism29-9.gif
Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy với con sông ngầm được xác định là dài nhất thế giới.
Ðộng nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Ðồng Hới 50 km về phía tây bắc. Từ Ðồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động. Chỉ cách đây vài năm, đây còn là một con đường đất đỏ, mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn. Nơi mà một thời bom đạn chiến tranh đã không chừa một tấc đất, một nhành cây, một ngọn cỏ. Nhưng giờ đây, chính con đường này đã thổi một luồng sinh khí mới cho bộ mặt của cả vùng núi hoang sơ này.
Nếu như đấng tạo hoá đã tạo ra con người thì hình như chính tạo hoá lại chở che cho chúng. Trải qua bao cuộc chiến, Ðộng Phong Nha vẫn còn đó, nguyên sơ như hàng triệu năm về trước.
Những làng quê yên bình nằm xen kẽ giữa những lùm tre thấp thoáng mái nhà nâu đỏ bên hữu ngạn sông Son. Những O thôn nữ đứng gọi đò bên bến nước, những chiếc thuyền đưa khách ngước xuôi, chào hỏi nhau bằng ngôn ngữ của nhiều vùng làm sống động cả bến sông. Thuyền cập bến cũng là lúc du khách bắt đầu một cuộc hành trình khám phá một mê hồn cung giữa chốn đời thường.
Ðộng Phong Nha có rất nhiều nhánh với chiều dài lên đến khoảng trên 20 km, nhưng hiên nay người ta mới khám phá nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất, nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Ðam cách đó hơn 20km về phía Nam. Trước cửa động, cảnh núi non sông nước càng thêm quyến rũ, thiên nhiên hùng vĩ với vô vàn hình ảnh kỳ thú hiện ra như khêu gợi trí tưởng tượng của con người. Người ta đã khéo đặt tên cho cảnh đẹp nơi đây là Ðộng Phong Nha (Ðộng Răng Gió). Vào mùa nước lớn. nước sông Son dâng cao che khuất cửa hang, thuyền du lịch không vào đây được. Tương truyền hơn một trăm năm về trước, ông vua trẻ Hàm Nghi đã ẩn mình ở đây cùng một số cận thần và ra lời kêu gọi Cần Vương.
Cửa động rộng khoảng 20 mét, cao 10 mét, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiềng mái chèo như có tiếng chiêng "bi ...tùng ...bi" vẳng lên, người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc riệu của Thần Núi vọng ra... tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiến trống. Ðộng chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền bởi một hành lang nước dài đến 1500m. Từ buồng thứ 14 ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa đến những buồng cũng to rộng không kém nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hoá đá vôi vẫn còng tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là Hang nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kỳ lạ kịch thích trí tưởng tượng.
Phong Nha không giống như những điểm du lịch khác ở Việt Nam, động nằm trong khu rừng nguyên sinh Kẻ Bảng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi. Trong con mắt của những vị du khách du lịch, những cư dân bản địa nơi đây mang một phong cách rất riêng "Họ cư xử thân thiện và tình cảm mang tính cách của người nông dân thuần kiết hơn là nhìn nhân du khách như là một cơ hội để tìm kiếm nguồn tài chính. Ðiều này càng làm cho Phong Nha thêm hấp dẫn khách du lịch".
Tháng 4 - 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha - Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:
1. Hang nước dài nhất
2. Cửa hang cao và rộng nhất
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất
4. Hồ ngầm đẹp nhất
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất
6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969 m)
7. Hang khô rộng và đẹp nhất.
Nguồn tin: www.vietnamtourism.com
vBulletin® v3.8.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.