View Full Version : Trò chơi "ĐI TÌM ẨN SỐ" - Tài năng CTO
Chào mừng bạn đến với ẩn số đầu tiên:
Ai là người phát minh ra ATM?
Hãy chứng tỏ khả năng cập nhật kiến thức của dân CTO đi bạn! :canny:
PowChicken
24-04-2007, 10:38
ATMmachine.com tin rằng người đầu tiên đưa ra ý tưởng về ATM là Luther George Simjian, người thực sự đã phát minh ra ATM là James Goodfellow ở Scotland vì bằng sáng chế của ông được cấp từ năm 1966, còn người phát minh ra thiết kế máy ATM đứng độc lập như chúng ta thấy ngày nay là John D. White của công ty Docutel ở Mỹ.
Theo website này, Bảo tàng quốc gia Lịch sử Hoa Kỳ nên tìm hiểu kỹ hơn khi tuyên bố ai là người phát minh ra ATM. Bảo tàng này cho rằng đó là Don Wetzel nhưng với những bằng chứng mà ATMmachine.com thu thập được, tuyên bố này của có vẻ hơi vội vã. Và với tất cả sự kính trọng dành cho Nữ hoàng Anh, cũng cần nhắc tới James Goodfellow vì ông đã được Nữ hoàng phong tặng vì “những đóng góp cho ngành ngân hàng” và được cho là người phát minh ra ATM ở Vương quốc Anh.
Như vậ, Câu chuyện này có vẻ như chưa có hồi kết, sự thực ai là người sang phát minh sẽ chưa thể có ngay câu trả lời, nhưng một điều chắc chắn, máy ATM đã bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 từ thể kỷ trước tại nước Anh và Mỹ và khoảng gần 40 năm sau nó bắt đầu xuất hiện tại thị trường Việt Nam.
To powchicken: Sẽ còn những trả lời thú vị nữa, powchicken hãy cùng tôi chú ý theo dõi xem sao nhé! :haha:
PS: Lần sau bạn nên quote cho trả lời của mình một link để biết nguồn tham khảo nhé.
(http://www.techcombank.com.vn/modules.php?name=Card&op=ndetail&nc=270&n=446)
Bạn hãy tiếp tục đi, ẩn số đang dần được hiện ra...
minhkhang
24-04-2007, 11:06
còn một bài này nữa nè
Khai trương my blog bằng câu chuyện về "Cha đẻ của chiếc máy ATM". Tối nay xem chương trình Người đương thời mà ngạc nhiên quá! Trước giờ cứ đinh ninh ATM là do John Shepherd-Barron (một kỹ sư người Scotland) phát minh ra chứ. Không ngờ inventor là Vietnamese cơ đấy! (chắc là 1 trong những inventor phát minh ra máy ATM thì đúng hơn). Nhưng không sao, xem cái cách mà Mr Cường trò chuyện với Mrs Tạ Bích Loan và khán giả truyền hình thì thú vị vô cùng, đầu óc có mở mang tý :love: . Phải nói rằng là vừa ngạc nhiên, cũng vừa hãnh diện nhưng cũng :smurf: vì kiến thức hạn hẹp của mình. Một bài viết về "Cha đẻ của ATM" có lẽ sẽ là 1 bài học thú vị khi khai trương cái blog này.
http://nguoiduongthoi.com.vn/Image.aspx/image=pjpeg/788c2e8ccea341d38f3aedda55689f91-DoDucCuong2.jpg/DoDucCuong2.jpg
Cha đẻ ATM - Ông là ai?
Chắc bạn cũng thấy rằng ATM (Automated Teller Machine - máy giao dịch tự động) đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam? Vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi nào có ATM, người dùng có thể thực hiện các giao dịch mà không cần đến Ngân hàng. Nhưng có khi nào đó giao dịch trên ATM bạn băn khoăn rằng ATM có từ bao giờ không? Để phần nào giải đáp những băn khoăn này, chúng tôi xin góp với các bạn vài câu chuyện lượm lặt trên Internet về việc ATM đã ra đời như thế nào.
Giải mã ẩn số
“Tôi không tin” – đó là câu trả lời của đa số mọi người khi được hỏi “Bạn có tin cha đẻ ATM là người Việt Nam không?”. Ai cũng nghĩ đó có thể là người Anh, người Pháp, người Mỹ hay một người nước nào đó nhưng không ai nghĩ đó là người Việt Nam. Sự thật là phát minh đó mang tên một người Việt Nam – Ông Đỗ Đức Cường.
Cảm nhận đầu tiên khi được nói chuyện với ông là gần gũi, nhiệt tình và thông thái. Ông luôn trân trọng khi nói chuyện với bất kỳ ai, từ một người nông dân, anh xe ôm đến người tri thức. Bạn có thể nhìn thấy ông say sưa giải thích về các phát minh với một người tri thức mặc com lê, và bạn cũng có thể nhìn thấy một sự say sưa tương tự khi ông nói chuyện với một người nông dân chân đất.
Thích làm việc ở chân cầu thang để được gặp gỡ mọi người. Trong ví lúc nào cũng có hàng chục thẻ ATM. Là tác giả của trên 50 phát minh và sáng chế, 20 năm làm việc tại ngân hàng Citibank - Mỹ, chuyên viên cao cấp cho ngành ngân hàng Hoa Kỳ, là Đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc. Trở về Việt Nam năm 2003, hiện ông là cố vấn cao cấp cho ngân hàng Đông Á.
Chết đói và may mắn của số phận
Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Đức Phổ, Quảng Ngãi. Những năm tuổi thơ nghèo khó. Các anh chị em lần lượt chết vì đói. 6 tuổi ông cũng đã chết hụt một lần và sống lại ngay kề miệng huyệt. Sau này ông luôn tự nhủ: “Phải làm giàu, không chỉ bản thân mình giàu có mà mọi người cũng phải giàu có, vì khi mình nghèo thấy số phận hẩm hiu quá!” Có lẽ đó chính là một dấu ấn góp phần tạo nên ý trí vươn lên mạnh mẽ của ông.
Từ sinh viên Y khoa thành cha đẻ ATM
Khởi đầu sự nghiệp học hành tại trường Đại học Y khoa Sài Gòn. Sau đó chuyển sang học ngành Kỹ cơ khí tại Đại học Phú Thọ (Đại học tổng hợp). 1963, trong kỳ kiểm tra của một phái đoàn của Nhật nghiên cứu về trí thông minh người Việt Nam ông là người có chỉ số thông minh cao nhất. Ông được cấp học bổng sang Nhật học tại Đại học Osaka. Ông vừa đi học vừa làm thêm tại công ty Toshiba. Một phát minh bất ngờ đã đưa ông đến Mỹ.
Gặp Giám đốc ngân hàng Citibank (Mỹ) trong một buổi ca nhạc do ông tổ chức. Ngay lúc đó ông nhận được một lời mời đến Citibank cùng đề nghị: “Dùng kĩ thuật để kiếm cho ngân hàng 1 tỉ khách hàng”.
Ông đưa ra 20 câu hỏi buộc ông chủ của Citibank phải thừa nhận 20 cái sai của ngân hàng và từ chối lời mời làm việc. Sự nhiệt tình, thẳng thắn cùng lời cam kết sẽ ủng hộ ông “lội ngược dòng” của Tổng giám đốc đã thuyết phục ông gia nhập Citibank. Mục tiêu của ông là “bình dân hoá dịch vụ ngân hàng”.
Trong thời gian này, ông đồng phát minh ra máy ATM. Đó chính là một bước tiến lớn của nhân loại trong lĩnh vực ngân hàng.
Trở về Việt Nam
Tháng 6/2003 trở về Việt Nam sau 40 năm để tham gia phiên họp đầu tiên về WTO ở Việt Nam, trợ giúp Seagames 22 và giúp WB làm bản báo cáo về viễn cảnh tốt đẹp của Việt Nam. Người đầu tiên tìm gặp lại là mẹ. Nỗi buồn sau 40 năm gặp lại mẹ lâm bệnh nặng. Chợt thấy mọi thứ trở nên vô nghĩa, ông biết rằng “Mẹ chỉ có một trên đời”. Từ bỏ mức lương cả triệu USD/năm, chấp nhận mất hết cổ phiếu chưa đáo hạn, ông rời Mỹ về Việt Nam để chăm sóc mẹ.
Lời khuyên cho ngành ngân hàng Việt Nam
Trở về Việt Nam cùng mong muốn góp công sức cho việc phát triển ngành ngân hàng, đưa ngân hàng đến từng người dân. Ông đã nhận lời làm tư vấn cho nhiều ngân hàng Việt Nam. Theo ông “ngân hàng Việt Nam nói chung có rất nhiều khiếm khuyết: không minh bạch và khó khăn về vốn và nguồn nhân lực”. Tuy vậy theo đánh giá của ông thì chúng ta cũng có nhiều lợi thế “người Việt, đất Việt, ngân hàng Việt. 83 triệu dân, 47 ngân hàng, 5 triệu tài khoản, 2,5 triệu thẻ”.
Ông Đỗ Đức Cường đã tư vấn và đưa ra 4 lời khuyên cho dịch vụ ngân hàng:
1. Quần chúng hoá dịch vụ ngân hàng, biến ngân hàng thành dịch vụ của cả xã hội chứ không chỉ là câu lạc bộ của người giàu.
2. Bình dân hoá dịch vụ để cô bán cà phê, anh lái xe ôm cũng có thể giao dịch với ngân hàng.
3. Chuyên nghiệp hoá đội ngũ cán bộ. Để phục vụ tốt thì lúc nào cũng phải mỉm cười và coi người sử dụng dịch vụ là người tiêu dùng.
4. Hiện đại hoá đi từ dân dụng đến chuyên dụng. Đừng cạnh tranh kỹ thuật mà phải tìm hiểu nhu cầu khách hàng.
Khi được hỏi cái gì là khởi đầu cho những phát minh của ông, ông Cường trả lời: “Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng khởi đầu của mọi tìm tòi khám phá của mình đều xuất phát từ cuộc sống. Cuộc sống khó khăn quá, cần cải thiện nó tốt hơn. Tôi tìm ra nguyên lý sống của mình là đừng xa xôi mà hãy nhìn, hãy yêu, hãy chăm sóc cuộc sống trước mắt cho thật tốt cái đã. Như thế tự nhiên thành công sẽ đến với mình”. Câu chuyện về ông Đỗ Đức Cường là câu chuyện về một con người chân chất, mộc mạc, gần gũi như chính mong muốn của ông: “Để cô bán cà phê, anh lái xe ôm cũng có thể giao dịch với ngân hàng”.
Theo người đương thời
Hoan hô!
Ẩn số đầu tiên đã tìm ra trong vòng không đầy 1 giờ!
Đây là chứng nhận đăng ký sở hữu trí tuệ của Ông Đỗ Đức Cường
http://www.patentstorm.us/inventors/Cuong_D__Do-917614.html
Ẩn số tiếp theo:
Ai là người phát minh ra máy tính?
PowChicken
24-04-2007, 17:48
Ai đã phát minh ra Máy Vi Tính?
Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì nó phụ thuộc vào cách định nghĩa Máy Vi Tính
* Nếu hiểu Máy Vi Tính là một máy tính nhỏ thì máy Kenbak do Jonh V.Blankenbaker chế tạo năm 1971 sẽ được coi là chiếc Máy Vi Tính đầu tiên
Máy Kenbak chế tạo từ 130 mạch tổ hợp IC nhưng thực chất nó chỉ là một máy tính cỡ nhỏ . Nó có thể thực hiện 1.000 lệnh/giây giá 750 USD (thời điểm 1971)
*Nếu coi máy vi tính là một máy tính nhỏ sử dụng bộ vi xử lí phổ biến hiện nay thì do một người Việt quốc tính Pháp chế tạo ra vào năm 1973 chỉ sáu tháng sau khi xuất hiện bộ vi xử lý. Đó là ông Adre Trương Trọng Thi và chiếc máy Micral của hãng R3E .
Năm 1975 một chiếc máy khác cũng sử dụng bộ vi xử lí, đó là chiếc Altair 8.800 của một hãng Mỹ chế tạo .
Năm 1985 nhà bảo tàng máy tính ở Boston đã tìm hiểu xem ai là người phát minh ra máy vi tính đầu tiên nhưng không xác định được một cách chính xác.Vì vậy giải thưởng được trao cho ba máy tính nói trên.
Máy Kenbak được coi là mô hình máy tính nhỏ đầu tiên
Máy Micral được coi là mô hình máy tính thương mại hoàn chỉnh đầu tiên có sử dụng bộ vi xử lý.
Vì vậy,không phảI không có lý khi coi ông Andre Trương Trọng Thi là người đầu tiên phát minh ra Máy Vi Tính
PowChicken
24-04-2007, 17:54
Vĩnh biệt Trương Trọng Thi, "cha đẻ" máy vi tính
Phần lớn lịch sử của máy tính cá nhân đã được viết trên đất Mỹ, nơi phát minh này được liên tục phát triển cho đến hôm nay. Tuy nhiên, trên thực tế, cội nguồn của hệ thống máy tính thương mại có vi xử lý đầu tiên của thế giới lại phải thuộc về châu Âu. Cụ thể hơn, cho một doanh nhân trẻ người Pháp gốc Việt, ông Trương Trọng Thi. Ông đã ra đi vào cõi vĩnh hằng ngày 4/4 vừa qua.
http://www.vnn.vn/dataimages/original/images544499_Truongtrongthi.jpg
Sau hơn hai năm rưỡi phải nằm viện, Kỹ sư người Pháp gốc Việt André Trương Trọng Thi đã qua đời tại Pháp ngày 4/4 vừa qua ở tuổi 69. Ông được thế giới biết đến như “cha đẻ của máy vi tính” khi phát minh ra nguyên tắc hoạt động bằng bộ vi xử lý cho máy tính.
Ông sinh năm 1936 tại Chợ Lớn, TP.HCM. Sang Pháp học từ năm 14 tuổi, sau đó trở thành kỹ sư vô tuyến điện. Năm 1971, ông lập Công ty R2E và chính công ty này là nơi ông cùng các cộng sự cho ra đời dòng máy vi tính đầu tiên trên thế giới Micral (vào tháng 5-1973) mà một bản mẫu của nó hiện được trưng bày trong Viện bảo tàng máy tính Boston (Mỹ).
Ông Trương Trọng thi, người phát minh ra hệ thống máy vi tính thương mại đầu tiên trên thế giới.
Ý tưởng thoạt đầu của ông về máy tính vẫn ứng dụng đến bây giờ: Máy gọn nhỏ, có thể sản xuất hàng loạt với giá phải chăng cho cả cá nhân lẫn cho giới doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động nghề nghiệp. Loại máy Micral của ông khi ấy đã được đưa vào sử dụng ngay trong hệ thống thu phí xa lộ ở Pháp.
Công lao của ông Trương Trọng Thi trong ngành máy tính còn được ghi nhận ở những ý tưởng tiên phong về loại máy vi tính tương thích, về xử lý và lưu trữ dữ liệu, về lưu trữ dữ liệu trên đĩa quang học...
Người khởi đầu cho điện toán cá nhân châu Âu
Được công bố vào tháng 2 năm 1973, hệ máy Micral của ông Thi được xây dựng trên nền chip Intel 8008, dung lượng bộ nhớ 256 bytes (với khả năng mở rộng lên... 1K), có đầy đủ màn hình và bàn phím. Năm 1974, ông Thi đã thuyết trình về Micral, lúc này đã được bổ sung thêm ổ cứng và ổ đĩa mềm, trước Hội thảo Máy tính Quốc gia Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phải hai năm sau, mới có một công ty của Mỹ mua giấy phép sử dụng phát minh này. Cuối cùng, ông Thi cũng phải từ bỏ dự án xây dựng chi nhánh riêng tại Mỹ do gặp quá nhiều khó khăn về tài chính.
Mặc dù điện toán cá nhân tại châu Âu vào thời điểm hiện tại đã mở rộng thành rất nhiều hình thái khác nhau, từ các trò game video gia đình quen thuộc cho đến các work station đa chức năng dành cho những tập đoàn lớn, nhưng có hai yếu tố đang kìm hãm tiến trình phát triển của nó.
Thứ nhất, phần cứng và phần mềm của Mỹ xuất khẩu sang châu Âu có giá cao hơn nhiều lần so với "cố hương". Thứ hai, ngôn ngữ cũng chính là một rào cản lớn. Không chỉ về mặt dịch thuật, mà các bộ ký tự tại đa số các nước châu Âu cũng khác nhau, trong khi các chương trình và tài liệu bằng tiếng địa phương là điều kiện tiên quyết để máy tính cá nhân thành công.
Đóng góp cho "văn minh điện toán" của Pháp
Nước Pháp đi một con đường riêng khi theo đuổi mục tiêu quốc gia về phát triển một nền công nghiệp máy tính nội địa vững mạnh. Thiếu phần mềm và nỗi sợ... bàn phím không còn là thách thức lớn nữa (mặc dù có thời cả các chuyên gia máy tính cũng ngần ngại sờ vào bàn phím vì sợ mất... hình tượng).
Các kế hoạch do chính phủ tài trợ về lắp đặt máy tính cá nhân trong trường học từ thập niên 1970 đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ công chúng. Đào tạo mở rộng và các chương trình tuyên truyền, giáo dục cộng đồng đã được tiến hành để đưa nước Pháp thẳng tiến tới "văn minh điện toán", cả với tư cách người sử dụng lẫn "đầu tàu" của ngành công nghiệp máy tính.
Và quả thật, Pháp cũng đã có được khá nhiều tên tuổi thành công buổi đầu như Goupil, dù mô hình hãng này sớm bị các hãng khác qua mặt. Ngày nay, những đại gia sản xuất máy tính tại Pháp là Bull, hãng đã mua lại R2E, công ty của ông Trương Trọng Thi. Dòng máy Micral phiên bản mới với những con chip hiện đại nhất hiện vẫn được coi là vũ khí chủ lực của Bull hiện nay.
Một đóng góp lớn khác của chính phủ Pháp, sáng kiến của cựu Tổng thống Mitterand, chính là việc xây dựng Trung tâm Vi tính và Nhân lực Thế giới giữa lòng thủ đô Paris. Đó chính là hy vọng của nước Pháp, cùng vài chục nước khác trên toàn thế giới, rằng điện toán cá nhân sẽ giúp Thế giới thứ ba thoát khỏi nghèo đói, và cải thiện cuộc sống cho cả nhân loại nói chung.
Những thiên tài "không gặp thời"
Chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới MICRAL của ông Trương Trọng Thi.
Ngày 13/02/1994, ông François Gernelle đang xem TV và nghe lễ công bố kỷ niệm 20 năm ngày ra đời chiếc máy vi tính đầu tiên. Ông ta đã nhảy lên khi nhìn thấy hình ảnh người chủ cũ của mình, ông André Trương Trọng Thi, được tôn vinh là người phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên.
Ông André Trương Trọng Thi đã cùng François Gernelle nghiên cứu để tạo ra chiếc máy vi tính đầu tiên. Ông Thi là giám đốc của R2E, công ty mà François Gernelle làm việc. Họ đã cùng tạo ra MICRAL, chiếc máy vi tính đầu tiên của nhân loại. Tháng 11 năm 1998, ông François Gernelle cũng chính thức được công nhận là người đồng phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên.
Gernelle và ông Thi gặp nhau năm 1968 tại Intertechnique, một công ty chyên về các ứng dụng y học và hạt nhân. Kỹ sư điện tử François Gernelle lúc đó đã đề xuất một mô hình máy vi tính sơ khai, nhưng nó không hoạt động được.
Năm 1972, Gernelle gia nhập vào công ty R2E do ông Thi làm chủ. Tại đây họ đã tìm ra cách để tạo ra một hệ thống giá rẻ để tính toán mức độ bốc hơi nước trong đất. Cuối cùng, chiếc máy MICRAL được ra đời.
Sau này, François Gernelle vẫn tiếc nuối vì đã không tạo ra được một công ty máy vi tính nổi tiếng thế giới cùng ông Thi. Vì sao họ đã bỏ lỡ cơ hội trở thành những người giàu nhất thế giới này? Đó là một ngày trong năm 1975, họ đã bỏ lỡ cơ hội tạo ra một khởi nghiệp kỳ diệu trên đất Mỹ. Chiếc máy vi tính MICRAL đã có một số thành công tại Pháp, và hãng Honeywell của Mỹ đã quan tâm tới việc thâu tóm MICRAL. Trong một quán bar ở Los Angeles, ông chủ của Honeywell, đã trả giá 2 triệu USD để mua lại máy vi tính MICRAL và phần mềm điều hành Prologue của R2E. Ông Thi đã không đồng ý, và ông chủ Honeywell ra về tay không. Năm 1983, hãng Bull của Pháp mua lại R2E, và dòng máy vi tính MICRAL do đó đã không có được cơ hội phát triển diệu kỳ tại thung lũng Silicon của Mỹ. Ông Gernelle sau đó cũng mở một công ty riêng khác, nhưng đã quá chậm chân.
Cống hiến cho nhân loại
Dù không tạo nên một sự nghiệp lớn và nổi tiếng, nhưng cái tên André Trương và Gernelle vẫn được thế giới và ngành công nghiệp điện toán ghi nhận là 2 người phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên. MICRAL đã mở đường cho cuộc cách mạng công nghệ vi xử lý như vũ bão, làm thay đổi cuộc sống và cách giao tiếp của nhân loại chỉ trong vòng 20 năm.
Có thể có người Việt Nam còn chưa kịp biết đến một trong 2 nhà phát minh ra máy vi tính là người đồng hương của mình. Có thể ông Trương Trọng Thi chưa kịp đóng góp gì về điện toán cho đất nước nơi ông sinh ra. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, chắc chắn, sẽ có thêm những người Việt biết đến ông, và thêm tự hào rằng người phát minh ra máy vi tính là một người Việt Nam.
PowChicken
24-04-2007, 17:59
sorry !! e quên để địa chỉ lại !! tại hôm bữa lên www.vietnamnet.com thấy !!
Hoan hô "powchicken"!
Khả năng tìm tài liệu của bạn rất tốt!
Vì đây là những thông tin không phải do chính chúng ta viết, nên lần sau powchicken nhớ kèm theo địa chỉ sau mỗi bài viết nhé!
- Bài thứ nhất (Ẩn số máy tính):
(http://www.luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=1898)
- Bài thứ hai (Ẩn số máy tính):
(Nguồn Vietnamnet.vn - ngày 08/04/2005)
Bác Trương Trọng Thi đã ra đi vĩnh viễn vào ngày 04/04/2005, để biết bao niềm thương tiếc của người thân và cộng đồng người Việt Nam trong nước cũng như ở nước ngoài. Chúng ta hãy dành ít phút để tưởng nhớ về "Người vinh danh đất Việt" này bạn nhé!
http://www.industrie-technologies.com/GlobalVisuels/Local/SL_Logo/jobstruong.jpg
http://www.echarton.com/blog/media/Andre-Truong.jpg
http://www.vnn.vn/dataimages/original/images544499_Truongtrongthi.jpg
PowChicken
24-04-2007, 18:20
sặc tại e gấp quá thôi e đi học đây mai có gì e lên tiếp a !! :D
Ẩn sô thứ 3:
Trận đánh làm sập cầu Cái Răng gắn liền với Vị Anh hùng nào? Nguyên nhân vì sao cầu Cái Răng sập?
PowChicken
24-04-2007, 22:00
trận đánh cầu cái răng gắn liền với vị anh hùng Chiêm Hoàng Tấn !! nguyên nhân Cầu Cái Răng Sặp là do anh Chiêm Hoàng Tấn đã lợi dụng lúc đêm tối đã cài khoảng 20kg thuốc nổ vào chân cầu đánh sập cầu Cái Răng !!!
Cầu Cái Răng vẫn còn là ẩn số....[x]
tranbatien
25-04-2007, 15:11
cho 1 đường tròn chỉ dùng comba thước kẻ ban hãy vẽ giúp tui <<<<<ngũ giác>>>>> hoặc chỉ phương pháp vẽ nếu ai giải đươc tui mới công nhận là giỏi !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
PowChicken
25-04-2007, 15:23
e đã sửa lại hoàn chỉnh còn số lượng thuốc nổ thì e nhớ kô có chính xác !
Đây là bài toán kinh điển của ngành Kiến trúc:
http://apollo.divshare.com/apollo2/files/2007/04/25/480501/pentagon.jpg
(Trích từ một quyển sách.)
powchicken cho xem nguồn tài liệu tham khảo đi!
Sau 3 ngày thách đố ẩn số Cái Răng cho đến nay vẫn chưa có ai tìm ra...
Nào, tài năng của CTO vẫn còn muốn ẩn mình à? :haha:
Mình rất muốn các bạn tìm ra ẩn số này vì nó rất gần với chúng ta và thể hiện mình mới đúng là một cư dân CTO chính hiệu!!!
Mình delay 2 ngày nữa nếu các bạn vẫn chưa tìm ra mình sẽ chuyển sang ẩn số khác và kết luận "Dân CTO không biết cầu Cái Răng sập vì sao?"
PowChicken
27-04-2007, 18:22
Sau 3 ngày thách đố ẩn số Cái Răng cho đến nay vẫn chưa có ai tìm ra...
Nào, tài năng của CTO vẫn còn muốn ẩn mình à? :haha:
Mình rất muốn các bạn tìm ra ẩn số này vì nó rất gần với chúng ta và thể hiện mình mới đúng là một cư dân CTO chính hiệu!!!
Mình delay 2 ngày nữa nếu các bạn vẫn chưa tìm ra mình sẽ chuyển sang ẩn số khác và kết luận "Dân CTO không biết cầu Cái Răng sập vì sao?"
trận đánh cầu cái răng gắn liền với vị anh hùng Chiêm Hoàng Tấn !! nguyên nhân Cầu Cái Răng Sặp là do anh Chiêm Hoàng Tấn đã lợi dụng lúc đêm tối đã cài khoảng 20kg thuốc nổ vào chân cầu đánh sập cầu Cái Răng !!! <---------------------------- Bài như vầy a còn muốn bổ sung thêm điều gì nữa ????????????
Powerchicken xem 2 bài viết này nhé:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Anh_h%C3%B9ng_L%E1%BB%B1c_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_v%C5% A9_trang_nh%C3%A2n_d%C3%A2n
http://72.14.235.104/search?q=cache:8IfcX_7ws0MJ:www.bentre.gov.vn/index.php%3Foption%3Dcom_content%26task%3Dview%26i d%3D24%26Itemid%3D36+%22t%E1%BB%95+ch%E1%BB%A9c+ph %C3%A1+s%E1%BA%ADp+c%E1%BA%A7u+C%C3%A1i+R%C4%83ng% 22&hl=fr&ct=clnk&cd=1&gl=fr
PowChicken
28-04-2007, 09:51
Cái bài đầu thì e xem rồi !! còn cái kia là ve bến tre mà đọc chi đâu liên quan gì đến cầu Cái Răng ??? e kô hiểu í a muốn nói gì ????
Powchicken hãy thử search từ khóa Cái Răng trên bài viết về "Bến Tre" đó xem sao nhé!
Sau đây là kết quả ẩn số Cái Răng:
- Nhân vật gắn liền với trận đánh Cái Răng (1945) là anh hùng mang tên LÊ BÌNH.
- Nguyên nhân cầu Cái Răng sập là do quân ta muốn ngăn chặn bước tiến của quân thù mà đã chủ động cắt đứt con đường huyết mạch của địch bằng cách dùng thuốc nổ công phá sập cây cầu này.
Theo thông tin từ Powchicken thì hiện tại bạn có thêm một số thông tin khác liên quan đến ẩn số thứ 3 về Cái Răng. Như vậy, trong khi chúng ta chờ đợi kết quả từ Pow để tránh các bạn chờ lâu, mình xin đề nghị tiếp ẩn số thứ 5.
Ẩn số này liên quan đến Vị lãnh đạo đang được rất nhiều người hâm mộ và kỳ vọng. Đó chính là Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân của chúng ta.
Bạn hãy cho biết:
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT nước ta là người tỉnh (TP) nào? (Quê quán)
Có phải Bộ trưởng của chúng ta học về Kỹ thuật điều khiển tên lửa?
alextrunghuynh
28-04-2007, 20:49
hình như ổng ở Sài Gòn... mình nghĩ ổng ko có học cái đó đâu, nếu có thì ổng vô làm trong quân đội chứ ko fải trong giáo dục :p
Ông sinh ra tại tỉnh Cà Mau, quê quán ông ở xã Phương Trà, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Ông là con của Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Thiện Thành (nguyên Giám đốc bệnh viện Thống Nhất) - một bác sĩ nổi tiếng từng tốt nghiệp trường đại học y nổi tiếng ở Pháp, sau khi tốt nghiệp ông về phục vụ trong ngành quân y của chính quyền Cách mạng, ông cũng là người tìm ra biện pháp hữu hiệu để chữa lành các vết thương cho các chiến sĩ bị thương trong thời kỳ chiến tranh thiếu thốn thuốt men.
Từ tháng 6 năm 1970, ông nhập ngũ và thi đậu Học viện Kỹ thuật Quân sự và được du học chuyên ngành điều khiển tên lửa tại Cộng hòa dân chủ Đức. Năm 1976, ông tốt nghiệp kỹ sư tại Đức và được phong quân hàm Thiếu úy, cán bộ nghiên cứu Viện Vũ khí có điều khiển thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc phòng (nay là Viện Tên lửa thuộc Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quân sự). Năm 1979, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Điều khiển học tại nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Ông lần lượt được phong Trung úy vào năm 1980 và Thượng úy vào năm 1982.
Từ tháng 4 năm 1983 đến tháng 4 năm 1985: Ông chuyển ngành, sang làm giảng viên trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ tháng 8 năm 1988 đến tháng 10 năm 1991: Ông là Tùy viên Giáo dục Đại sứ quán Việt Nam tại nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Trong thời gian này, ông học thêm về kinh tế thị trường tại trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Magdeburg, Cộng hòa Liên bang Đức[1].
Từ tháng 2 năm 1992, ông là cán bộ giảng dạy tại trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức Phó Chủ nhiệm bộ môn Quản lý Công nghiệp.
Từ tháng 6 năm 1993 đến tháng 8 năm 1995: Ông được cử đi học cao học quản lý cộng đồng (quản lý Nhà nước) chuyên ngành Tài chính công tại trường Đại học Oregon (Mỹ) và học khóa đào tạo về thẩm định dự án đầu tư tại trường Đại học Harvard (Mỹ).
Từ tháng 9 năm 1995 đến tháng 5 năm 1997: Ông là giảng viên, Chủ nhiệm Khoa Quản lý Công nghiệp, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ tháng 5 năm 1997 đến tháng 12 năm 1999: Ông là Giám đốc Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Quốc hội khóa X.
Từ tháng 12 năm 1999 đến Đại hội X: ông đảm nhiệm Phó Chủ tịch rồi phó Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 5 năm 2001)
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hoan hô!
Rất mừng vì cuối cùng cũng đã có người tìm ra! Mình cứ tưởng các bạn không biết thêm thông tin nào về Bác Nhân chứ!
metalar hay lắm! Bạn hãy tiếp tục nhé!
Mình có một lưu ý nhỏ với metalar thế này:
Lần sau post bài lên bạn chịu khó định dạng lại cho dễ nhìn một tí nhé!:baffle:
Nhìn lại bài của mình chắc bạn cũng không hài lòng lắm phải không? :haha:
Và nhớ ghi chú nguồn tham khảo nhé! (cái này quan trọng lắm! Vì nó là cơ sở để mọi người công nhận thông tin của bạn.)
Mình không biết có đúng như tài liệu bạn tham khảo không. Nhưng mình có link này cũng khá giống.
vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Thiện_Nhân
Ngoài ra, các link sau đây cũng dẫn tới một số bài viết rất ấn hay về Bác Nhân. Các bạn cùng tham khảo nhé! Mình ấn tượng bài thứ 2:
http://www.sonoivu.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/news_detail.asp?period_id=1&cat_id=412&news_id=1489
http://www.dantri.com.vn/giaoduc-khuyenhoc/2006/11/154911.vip
Cuối cùng, một lần nữa mình CHÚC MỪNG bạn metalar! Mời bạn đón xem tiếp ẩn số tiếp theo nhé! :haha:
nhtuong
Ẩn số thứ 6:
Bạn hãy cho biết:
Cầu Cần Thơ khởi công vào ngày mấy, dự kiến khánh thành năm nào và có mấy cái NHẤT?
PowChicken
07-05-2007, 09:35
Ngày 25 tháng 9 năm 2004, Dự án cầu Cần Thơ trên Quốc lộ 1 sẽ chính thức khởi công.
Đây là cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất ở khu vực Đông Nam Á hiện nay; đồng thời, cũng là cây cầu cuối cùng đánh dấu sự hoàn tất hệ thống cầu đường trên tuyến Quốc lộ 1 - trục giao thông huyết mạch và quan trọng nhất của Việt Nam.
Đã quá nửa thời gian dự kiến cho công trình xây dựng cầu Cần Thơ. Theo Thông báo của Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận đưa ra trong cuộc họp sáng 3-3 tại TP Cần Thơ, do Thứ trưởng Bộ GTVT Ngô Thịnh Đức chủ trì, bàn về tiến độ thi công dự án cầu Cần Thơ, thì tiến độ thực hiện các gói thầu đều chậm. Gói thầu 1 (thi công đường dẫn phía Vĩnh Long) ì ạch, đến nay đã sử dụng hết 57% kế hoạch về thời gian nhưng khối lượng thi công chỉ mới chỉ đạt 16,37% (chậm 14,53% so với kế hoạch). Gói thầu số 3 (thi công đường dẫn phía Cần Thơ) mới chỉ đạt 25,01% so với 28,2% kế hoạch. Chỉ có gói thầu 2 (thi công phần cầu chính - cầu treo dây văng và cầu dẫn qua hai bờ sông Hậu), do liên doanh các nhà thầu Taisei - Kajima - Nippon Steel (Nhật Bản) đảm trách thi công được đánh giá là đạt tiến độ cao nhất so với kế hoạch của trong 3 gói thầu, đã đạt 50,02% khối lượng công trình so với tiến độ của kế hoạch là 51,31%).
Như vậy, việc chậm tiến độ của các gói thầu là có thật, do năng lực nhà thầu kém, đơn vị chủ đầu tư thiếu giám sát, đốc thúc các đơn vị thi công. Tuy nhiên, điều đó cũng chưa thể dẫn đến kết luận rằng cầu Cần Thơ sẽ không hoàn thành việc xây dựng trước tháng 12-2008. Ở đây, vấn đề được nêu lên mang ý nghĩa là một sự cảnh báo rằng, nếu không sớm giải quyết các vướng mắc, đẩy nhanh thi công, khẩn trương để theo kịp kế hoạch tiến độ đề ra thì cầu Cần Thơ sẽ khó có thể hoàn thành đúng thời gian dự kiến.
(Theo Viet Nam Net và báo điện tử Can Tho ).
Tốt lắm Pow, em cố lên nhé!
Đây là ẩn số thứ 7:
Sự thật Công tử Bạc Liêu là ai?
Póc tem " Công tử Bạc Liêu " nha !
< May quá, quê Nội Aki ở BL & cách nhà Công Tử Bạc Liêu 5' đi bộ thôi >:look_down: :smile:
Công tử Bạc Liêu là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ ăn chơi.
Vốn thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu "Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này. Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.
[......]
Để bít thêm thông tin & chi tiết , Aki mời các bạn theo link dưới đây nha :
http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_t%E1%BB%AD_B%E1%BA%A1c_Li%C3%AAu
Have fun !:smile:
Mitoshen
08-05-2007, 21:05
chà chà, 1 nhân tài nữa xuất hiện
chàng gà đã không cón là kẻ di đầu trong việc tìm kiếm ẩn số :boss:
Mitoshen tặng 1 ẩn số kế tiếp vậy:
Đường tam tạng là nhân vật có thật trong thời đại hoàng đế nào của Trung Quốc.Nêu rõ tên của vị vua đó nhé :boss:
Póc tem cái nha ::byebye:
Xin thưa, mỗi năm hè về , chúng ta lại có dịp xem đi xem lại bộ phim nổi tiếng " Tây Du Ký " của Ngô Thừa Ân & trong đó Đường Tam Tạng là 1 trong những nhân vật cốt lõi & không những thế, ông còn là 1 nhân vật có thật ngoài đời. Aki nhân lúc rãnh rỗi, cũng " bon chen " chút xíu hén :
Huyền Trang (chữ Hán: 玄奘 xuán zàng; 602–?) là một Cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách Phạn ngữ ra tiếng Hán. Sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (zh. fǎxiàngzōng 法相宗), một dạng của Duy thức tông (zh. 唯識宗, sa. yogācāra, vijñānavāda) tại Trung Quốc. Vì tinh thông Kinh điển Phật giáo nên Sư còn mang danh hiệu là Tam Tạng (Pháp sư), là người tinh thông cả Tam tạng.
Theo một nguồn khác Aki được bít thì Trần Huyền Trang là một nhân vật có thật trong lịch sử nhà Ðường. Ông tên thật là Trần Vỹ, sanh vào năm thứ 16 đời Tùy Văn Ðế Dương Kiên (596 sau TL) tại huyện Câu Thi (hiện là Huyện Yêm Sư) Tỉnh Hà Nam. Và chuyện thỉnh kinh Tây Phương cũng là chuyện có thật, đã được chính Huyền Trang thuật lại rất cặn kẽ trong bộ "Ðại Ðường Tây Vực Ký". Thầy chính là một nhân vật sống đã vào lịch sử một cách vinh quang. Thầy từng làm tôi cho vua Ðương Thái Tôn (Lý Thế Dân) là bậc minh quân đm lại hiển vinh cho lịch sử Trung Quốc.
Pà kon mình muốn tìm hiểu thêm về tích Đường Tam Tạng, xin ghé ngang link này để tham quan chút hén :
http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Trang#C.C6.A1_duy.C3.AAn_v.C3.A0_th. C3.A0nh_t.C3.ADch
Hope ya'll enjoy it !
Mitoshen
09-05-2007, 12:52
Tại sao Aki lại trả lời cực kỳ dễ dàng nhanh gọn và chính xác thế,hix hix
câu hỏi quá dễ sao :boss:
Còn đây là ẩn số kế tiếp,cố lên đi gà, thua 1 cô bé rồi kìa :D
Mẹ của trùm phát xít Hitle, là ai?hehe.Trả lời giống Aki càng tốt
PowChicken
09-05-2007, 14:22
Tại sao Aki lại trả lời cực kỳ dễ dàng nhanh gọn và chính xác thế,hix hix
câu hỏi quá dễ sao :boss:
Còn đây là ẩn số kế tiếp,cố lên đi gà, thua 1 cô bé rồi kìa :D
Mẹ của trùm phát xít Hitle, là ai?hehe.Trả lời giống Aki càng tốt
ặc khi nào ở không mới kiếm được chứ !! Xin lỗi ngoài lề chút !! Ông Shen chơi chữ ký hơi bị sốc à !!
tranbatien
09-05-2007, 14:34
ai giup em voi <<<1+1>>> = mấy khó wa và hệ thức sau sin 2 & +cos 2 &=4 ai giải được khen hay!!!!! khoan còn câu nữa 3 tam giác đều hình cây thông dịch 3 cây trong 9 we thành 4tam giác đều 100% là bó tay rùi
tranbatien
09-05-2007, 14:44
khoan cho 1 comba thước vẽ giùm tui góc 19 độ ờ hệ thức trên là sin bình alfa +có bình alfa =4 đó từ từ ngâm cứu nha ai gai đuọc khen giỏi đó>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! !!!!!!!!! ờ wen NHTUONG tra loi đúng rồi có muốn thử nữa ko đẻ chứng minh giỏi tiếp hử?????????????????????????????????????????????? ?????????????????????????????????????????????????? ?????????????????????????????????????????????????? ?????????????????????????????????????????????????? ?????????????????????????????????????????????????? ?????????????????????????????????????????????????? ??????????????????????
Lại xin cái tem nha :smile:
Trước khi nói về Mamy của Trùm Phát xít Adolf Hitler,Aki xin dành 1 phút để sơ lược về Hitler nha < tiếng Việt mình hay gọi là Hitle áh > :
****Adolf Hitler (trợ giúp·chi tiết) (sinh 20 tháng 4 năm 1889 tại Braunau am Inn – tự sát ngày 30 tháng 4 năm 1945) là chủ tịch Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, viết tắt NSDAP) từ năm 1921, Thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" (Führer und Reichskanzler) kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm 1934.
Ông kiến lập chế độ độc quyền quốc gia xã hội của Đệ tam Đế quốc, cấm chỉ tất cả các đảng đối lập và bức hại các đối thủ chính trị. Ông đã khởi phát Đệ nhị thế chiến, thúc đẩy một cách có hệ thống quá trình tước đoạt quyền lợi và sát hại khoảng sáu triệu người Do Thái châu Âu cùng một số nhóm chủng tộc, tôn giáo, chính trị khác[1], được gọi là cuộc Đại đồ sát dân Do Thái (Holocaust).
*****Adolf Hitler là người con thứ tư trong sáu người con của Alois Hitler, một viên chức hải quan với Klara, người vợ thứ ba gốc Áo và cũng là cháu gái cột chèo hệ thứ hai của Alois Hitler.
***** Về phần Klara Hitler < tức là Mamy của Hitler>, Aki xin được sơ lược bằng tiếng Anh hén :
Klara Pölzl (August 12, 1860 - December 21, 1907), was the mother of Adolf Hitler with her husband Alois Hitler.
Born in the Austrian village of Spital, Weitra, she was the daughter of Johann Pölzl and Johanna Hiedler. Either Klara's grandfather Johann Nepomuk Hiedler or his brother were also likely Alois' biological father. Moreover, Johann was her future husband's step-uncle. Even after they were married Klara still called her husband Uncle. Author Bradley F. Smith describes Klara as "a fairly large girl, almost as tall as her husband, with dark brown hair and even features."[1] Her adult life was devoted to keeping house and raising children, for which, according to Smith, Alois had limited interest.[2] Klara had six children. Only two of them, Adolf and Paula, survived childhood. She was a devout[3] Roman Catholic and went to church regularly. When her husband Alois died in 1903 he left her a government pension along with property and as a result she was adequately provided for financially, as were her children. However, four years after the death of her husband Klara died painfully from breast cancer at the age of 47 in Linz, Austria. Her teenaged children Adolf and Paula were at her side.
********* People, enjoy ! *********
P/S : hok bít cứ " póc tem " hoài mà có thưởng ji` hok ta ???:look_down:
Mitoshen
12-05-2007, 12:22
dịch tiếng Anh ra hơi bị mệt><
mà còn chưa dịch sát nữa>< ai rảnh dịch giùm Shen cái coi
Nói chung Mitoshen thì chỉ biết bà ta có dòng máu của người Do Thái,nên bản thân Hitler cũng có dòng máu đó.
Thông minh kiệt xuất nhưng lại là 1 người ko có đức,kẻ ảnh hưởng cực lớn đến thế giới suýt gậy ra họa diệt chủng cho người Do thái chỉ vì 1 lý do ông ta không muốn có giống người thông minh giống bản thân ông ấy tồn tại.Nói sơ sơ vậy thôi nha.^^ hiểu sao thì hiểu.
@tranbatien: sory,câu hỏi của bác quăng qua góc học tập thử xem.
@có phần thưởng,1 ly cà phê nha :D chừng nào muốn nhận thưởng thì kiếm Mitoshen
theboylove
12-05-2007, 12:53
Ẩn số tiếp theo: Quá trình hình thành và phát triển của CTO ?
PowChicken
14-05-2007, 18:08
Ẩn số tiếp theo: Quá trình hình thành và phát triển của CTO ?
cái này hơi bị lạc đề òi !! đố vầy sao người ta nói được !!???? tính quậy hả ???:choler: :choler: :choler: :choler: :choler: :choler: :choler: :choler:
Từ bài ngũ giác nội tiếp ta có kết quả sau:
http://athena.divshare.com/s03/files/2007/05/14/640127/batien1.JPG
http://apollo.divshare.com/s03/files/2007/05/14/640135/batien2.JPG
Cho trước đoạn thẳng AB, từ A vẽ 1 tia Ax bất kì. Trên tia Ax lần lượt lấy các điểm A1, A2, A3 sao cho: AA1 = A1A2 = A2A3 (dùng compa).
Nối đoạn thẳng BA3, sao đó từ A1, A2 lần lượt vẽ các đường thẳng song song với BA3, chúng cắt AB lại 2 điểm. Đó là 2 điểm cần tìm.
Gợi ý cho bạn tìm góc 1 độ là 18:2:3:3
http://www.capohedz.com/typebrighter/uploaded_images/Klara_Polzl_Hitler-715604.jpg
Klara Polzl Hitler
(http://www.capohedz.com/typebrighter/2005/10/klara-polzl-hitler.html)
Hitler là người rất yêu thương mẹ mình, theo như kể lại thì bất cứ khi đi đâu, Ông ta cũng luôn mang theo 1 tấm hình của mẹ bên mình.
Mình thấy ở đây (http://www.venonet.com/forums/index.php?showtopic=20201)các bạn có thảo luận sôi nổi về nhân vật này đấy các bạn:
http://www.venonet.com/forums/index.php?showtopic=20201
Bí mật cuả gia đình Hitler (http://www.hanoimoi.com.vn/vn/26/129300/)
Ngày tàn của Hitler (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2005/05/050502_hitlerlastdays.shtml)
Adolf Hitler sẽ bị tước quốc tịch Đức? (http://www2.vietnamnet.vn/thegioi/2007/03/672429/)
Hitler qua trong Bách khoa toàn thư (http://vi.wikipedia.org/wiki/Adolf_Hitler)
Ẩn số tiếp theo: Quá trình hình thành và phát triển của CTO ?
Theo nhận định của mình thì đây là một ẩn số lớn cần thêm nhiều dữ kiện quan trọng. Ví dụ như 1 buổi OFF ăn mừng công bố thành lập chẳng hạn...! :hungry:
Bạn biết gì về
TAM GIÁC VÀNG
CỦA CHÂU Á?
Tam giác vàng, khu vực rừng núi biên giới hiểm trở giữa ba nước Lào, Thái Lan, Myanmar khét tiếng là lãnh địa của việc sản xuất và buôn bán thuốc phiện hàng đầu thế giới
PowChicken
15-05-2007, 09:11
- Tiếp theo của Metalar !!
Khu vực này có diện tích vào khoảng 350.000 km vuông. Khu vực giáp ranh giữa 3 nước, địa hình chủ yếu là đồi núi hiểm trở. Do nằm xa các trung tâm hành chính, hiểm trở cũng như do đặc điểm của khu vực biên giới, việc kiểm soát của Chính phủ các nước đối với khu vực này là rất hạn chế.
Ngay từ thập niên 50 của thế kỷ 20, Tam giác Vàng đã trở thành một trong những nơi trồng nhiều cây thuốc phiện, cần sa nhất thế giới.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/27/HeroinWorld.png/400px-HeroinWorld.png
chodongbang
16-05-2007, 04:05
mình xin đóng góp chút tài liện nha
Tam giác vàng và đường dây ma túy xuyên quốc gia
22:03:00, 26/09/2005
Trồng cần sa là hoạt động chính nuôi sống người dân "Quốc gia" Wa
Những cuộc bố ráp trấn áp tội phạm ma túy ngày càng được tăng cường trong toàn khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là tại Thái Lan. Thế nhưng, những kẻ mua bán ma túy tại vùng Tam giác vàng vẫn không hề lùi bước. Những cuộc truy bắt lớn gần đây cho thấy việc triệt phá tận gốc thuốc phiện trong vùng Tam giác vàng vẫn chỉ là một ước muốn, và những kẻ buôn bán thứ hàng chết người này ngày càng quỷ quyệt hơn.
Kỳ 1: Vương quốc thuốc phiện
Nằm trong một vùng núi khó bị chính quyền các nước kiểm soát, khu vực Tam giác vàng đã và đang là một thiên đường của ma túy.
Đây là khu vực trồng cần sa lớn nhất thế giới trải dài dọc theo biên giới Myanmar, Thái Lan và Lào. Xứ sở của những người Wa do Bao Youxiang cai quản nằm ở ngay trung tâm của vùng và cũng là nơi có sức ảnh hưởng lớn nhất. Phần lớn diện tích Tam giác vàng nằm trong vùng núi có độ cao 1.000m rất phù hợp với việc trồng ma túy. Những cánh rừng bạt ngàn có rất ít tuyến đường giao thông và một vị trí đặc biệt khiến vùng nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ cả ba nước đã mang lại điều kiện lý tưởng cho việc trồng cần sa. Cần sa chiếm hơn một nửa diện tích đất trồng, thậm chí tại một số nơi tỷ lệ này lên tới 80%.
Với chất lượng cao, phần lớn thuốc phiện sản xuất tại Tam giác vàng đều được chế biến tại chỗ thành bạch phiến. Bạch phiến của khu vực Đông Nam Á có nhãn hiệu hai con sư tử bao vây địa cầu, điều này cũng đồng nghĩa với hàng trắng chất lượng cao và được tiêu thụ trên toàn thế giới. Tờ Waitan Huabao của Trung Quốc cho biết cứ 10 kg nha phiến bán tại vùng sản xuất có giá từ 1.700 đến 2.000 euro (1 euro tương đương 20.000 đồng VN) và có thể tạo ra 1 kg bạch phiến với giá 3.000 euro ngay tại Tam giác vàng. Một khi hàng được tuồn sang Trung Quốc đến Vân Nam, giá bán có khi lên đến 4.000 hoặc 6.000 euro, còn tại Thượng Hải hoặc Bắc Kinh là 15.000 euro.
Tại Hồng Kông giá bán lại còn khủng khiếp hơn, 500.000 đô la Hồng Kông (53.000 euro) và dao động trong khoảng 80.000 đến 150.000 USD (66.000 - 120.000 euro) tại Mỹ. Lợi nhuận cao ngất thu được qua những lần mua qua bán lại khiến nhiều người gia nhập hàng ngũ những kẻ buôn lậu ma túy có trang bị vũ khí. Trung Quốc chính là mục tiêu mới của những kẻ buôn lậu vì ở sát ngay Tam giác vàng.
Theo báo cáo thường niên năm 2005 của Chương trình kiểm soát ma túy quốc tế của Liên hiệp quốc, trong năm 2003, Trung Quốc đứng hàng thứ ba trên thế giới sau Pakistan và Iran về các vụ thu giữ ma túy, đặc biệt là bạch phiến, với 9,6 tấn, chiếm 9% lượng ma túy bị thu giữ trên toàn cầu và 77% lượng ma túy bị thu giữ tại Tây Á và Đông Nam Á. Tại huyện Dehong thuộc tỉnh Vân Nam, 1.928 kẻ bị tình nghi người Trung Quốc và nước ngoài đã bị bắt trong 1.809 vụ buôn bán thuốc phiện trong 5 tháng đầu năm 2005, tăng 45% số vụ so với cùng kỳ năm trước. Tổng cộng 940 kg ma túy đã bị thu giữ. Huyện Dehong ở sát biên giới Tam giác vàng và người ta ước tính hằng năm có hơn 20 tấn ma túy các loại đã quá cảnh tại đây bằng con đường Mujie (Myanmar) - Ruili - Côn Minh. Đảo Hải Nam, Trung Quốc cũng trở thành một chặng quan trọng trên con đường buôn lậu ma túy. Cảnh sát Hải Nam thống kê có 291 vụ buôn lậu ma túy trong 6 tháng đầu năm 2005.
Cuộc truy bắt thuốc phiện ngày 19.3 vừa qua, một trong những đợt truy quét vô tiền khoáng hậu tại Đông Nam Á, đã khẳng định điều mà cảnh sát Thái Lan vẫn thường cảnh báo với chính phủ nước này đó là với những băng đảng ngày càng tinh vi hơn, tổ chức quy củ hơn và táo tợn hơn, thì việc buôn bán ma túy có nguy cơ vẫn là một căn bệnh mãn tính trong toàn khu vực.
Mafia Trung Quốc đã làm cảnh sát phải sửng sốt khi bạo gan vận chuyển 546 kg bạch phiến theo đường biển từ vùng Tam giác vàng (biên giới Myanmar, Thái Lan và Lào) sang Hồng Kông qua ngả Thái Lan. Nhưng kế hoạch của chúng đã bị lộ, cảnh sát đường biển của Thái Lan đã bắt gọn 5 tên ngay gần biên giới Campuchia. Để đánh được mẻ lưới này, cảnh sát đã mất hơn một năm theo dõi và cuối cùng biết chắc rằng bọn buôn bán ma túy đã mở lại một tuyến đường gần như bị bỏ quên từ 30 năm nay. Trong những năm 1970, Lo Hsing-han, một trong những tên trùm ma túy lớn nhất Đông Nam Á cùng những đối tác của hắn tại Hồng Kông và Bangkok đã giao cho các ngư dân Thái theo con đường này, vận chuyển nha phiến đến tận thuộc địa cũ của Anh, và tại đây nha phiến được lọc và tinh chế thành bạch phiến. Sau đó, Lo và những kẻ kế thừa "ngai vàng" của hắn, đặc biệt là Khun Sa, đã quyết định đưa các nhà hóa học đến hẳn vùng Tam giác vàng để sản xuất bạch phiến tại chỗ. Điều này cho phép giảm thiểu chi phí cũng như rủi ro vận chuyển chất trắng gấp 10 lần, bởi vì để có được 1 kg bạch phiến thì cần phải chế biến 10 kg nha phiến.
Hiện nay, việc buôn lậu ma túy được đặt dưới sự thao túng của cái gọi là Quân đội thống nhất của "Quốc gia Wa" (UWSA) - nhóm cai quản một trong những vùng sản xuất chính của Myanmar - và hội tam hoàng 14K, đặt tại Hồng Kông - một tổ chức mafia có rất nhiều chân rết ở Bangkok và các nước khác trên thế giới. UWSA chế biến bạch phiến rồi xuất thẳng sang Trung Quốc ngay tại biên giới với Myanmar. Sau đó ma túy sẽ đi theo con đường quen thuộc từ 12 năm qua - đó là trung chuyển tại Vân Nam rồi rẽ ra làm hai ngả: một là Bắc Kinh, Thượng Hải; hai là Quảng Châu, Hồng Kông. Như vậy với UWSA, việc sản xuất và buôn lậu ma túy vẫn không ngừng được tiếp diễn tại Tam giác vàng.
http://www.thanhnien.com.vn/Thegioi/Tulieu/2005/9/26/123724.tno
chodongbang
16-05-2007, 04:08
Câu hỏi của mình: "Việt Nam có vị hoàng đế bách Chiến Bách Thắng là kết hợp hai đặc điểm Thiên Tài Quân Sự của ông Napoléon Bonaparte và chính trị gia lỗi lạc của ông George Washington" (Đặng Đức Bích). Vị hoàng đế đó là ai? Thửo nhỏ ông có bao nhiêu tên? Đăng quang được bao nhiêu năm và mất vì lí do gì ?
WWW.CHODONGBANG.COM (http://www.chodongbang.com) WELCOME
Đó là "Anh hùng áo vải".
nhtuong
Mình thấy metalar, powchicken và chodongbang các bạn có những thông tin rất nhanh và chính xác.
Chúc mừng các bạn! Mình phụ thêm chodongbang một chi tiết nữa về vị vua ở trên đó! Các bạn hãy trả lời tiếp đi! Rất dễ phải không? Nhưng nó vẫn còn là bí mật cho đến khi bạn là người tìm ra nó!
Mình cũng hơi ngạc nhiên vì cách "xử lý" ẩn số về vị VUA này của các bạn! Không biết có phải các bạn cho là quá dễ đến nỗi không cần trả lời không? Mình ra ẩn số tiếp theo, nhưng các bạn phải "giải quyết" ẩn số về vị VUA này cho xong nhé!
Bạn biết được bao nhiêu nhà lãnh đạo nữ trên thế giới?
alextrunghuynh
18-05-2007, 13:37
1 hà: Thủ tướng Đức: Angela Merkel
Cố lên đi bạn! Các bạn nữ đâu rồi nhỉ các bạn chỉ có 1 đại diện như alex_trung_huynh nói sao?
alextrunghuynh
18-05-2007, 23:00
eh, mình là BOY!!! bạn nên edit lại đi :what::what::what:
To alex_trung_huynh: Bạn xem lại bài post của mình một lần nữa nhé!
To ALL: Các tài năng của CTO chịu thua ẩn số về "Phái đẹp" dễ dàng như thế sao? Thông tin các bạn cung cấp còn ít quá! Mình chưa thể bật mí kết thúc ẩn số này ở đây!
Bạn biết được bao nhiêu nhà lãnh đạo nữ trên thế giới?
alextrunghuynh
24-05-2007, 03:46
Cố lên đi bạn! Các bạn nữ đâu rồi nhỉ các bạn chỉ có 1 đại diện như alex_trung_huynh nói sao?
thế là seo? Mình coi và phân tích lại rùi đó... mình vẫn ko hiểu. Đề nghị bạn edit lại! :what: Nếu bạn biết đọc những dòng chữ do chính tay mình viết!
Tôi không có ý kiến! Bạn xem lại kỹ lần nữa và chú ý từ "nói"!
AKi is back !
Nếu có gợi ý là " anh hùng áo vải " thì nếu AKi không nhầm thì chính là vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ ,người được dân chúng truyền tụng là Anh Hùng Áo Vải Tây Sơn .
Để biết thêm về vị Vua tài ba nì , các bạn có thể ghé qua link http://vi.wikipedia.org/wiki/Quang_Trung để có thể hiểu thêm về Anh Hùng Áo Vải Tây Sơn .
Thêm 1 chuyện nhỏ về Quang Trung . Nguyễn Huệ là vị Vua duy nhất trong Lịch Sử Việt Nam, người chỉ có duy nhất 1 người vợ là Hoàng Hậu Lê Ngọc Hân .
Thêm 1 chuyện nhỏ khác : Bà của Aki là cháu đời thứ 7 của vị anh hùng áo vải nì :P
Do những chiến tích vang dội, Nguyễn Huệ được các giáo sĩ Tây phương nể sợ và so sánh với Alexandros Đại Đế, và quân Xiêm đã run sợ coi Nguyễn Huệ như một ông "tướng nhà trời".[cần chú thích]. Các danh tướng vĩ đại khác như Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt, Napoléon I, Tây Sở Bá vương Hạng Vũ trong cuộc đời chính chiến vẫn có lúc thua trận, nhưng Nguyễn Huệ thì chưa bao giờ.
Gần như toàn bộ chiến thắng của nhà Tây Sơn đều gắn với tên tuổi ông. Không chỉ là một viên tướng thiện chiến, Quang Trung còn là một nhà cai trị tài ba. Không chỉ giỏi về chiến thuật quân sự, ông còn giỏi về chiến lược ngoại giao và thu dụng nhân tài để xây dựng đất nước. Cái chết đột ngột của ông khiến đời sau còn tiếc cho nhiều dự định lớn lao chưa thành hiện thực.
Những thông tin Aki cung cấp rất thú vị! Mình tuyên bố Ẩn số về vị Vua tài ba của nước ta thuộc về Aki19! Aki19 cố gắng phát huy nhé! Hiện nay Ẩn số về các nữ danh nhân chưa có chủ sở hữu!!
- Indra Nooyi, CEO của PepsiCo
- Hillary Rodham Clinton , phu nhân cựu Tổng Thống Clinton.
- Elizabeth II , hiện là nữ hoàng Anh Quốc.
- Condoleezza Rice, Bộ trưởng bộ Ngoại Giao Mỹ.
............
< Đáng tiếc là ẩn số nì đưa ra hơi muộn . Vì cách đây gần 1 năm , Aki có làm 1 cái list 51 người phụ nữ tài năng nhất thế giới trong lớp History ........, jo` thì quên mất òi ....... :P >
Mình rất vui vì cuối cùng cũng có ý kiến cho rằng ẩn số này khó quá, tìm sao mà hết được? Nhưng các bạn thân mến nếu nói như thế thì các bạn thua mình rồi nhé! Mình đang sở hữu địa chỉ một site list danh sach các Nữ nguyên thủ quốc gia của thế giới, rất nhiều... chứ không chỉ có vài người như các bạn công bố ở trên. Các bạn nghĩ thế nào? Chịu thua hay là cần cho gia hạn để tiếp tục thử tài???
smalllove
28-05-2007, 01:13
Danh sách các nữ Nguyên thủ Quốc gia và nữ Thủ tướng trên thế giới theo thời gian:
Hai Bà Trưng, Việt Nam, vua 40 - 43
Võ Tắc Thiên, Trung Quốc, vua, (690-705)
Sühbaataryn Yanjmaa, Mông Cổ, quyền Chủ tịch, 1953-1954 -(checked by MB)- người phụ nữ đầu tiên thực hiện nhiệm vụ Tổng thống/Chủ tịch
Sirimavo Bandaranaike, Sri Lanka, Thủ tướng, 1960-1965, 1970-1977, 1994-2000 - nữ thủ tướng đầu tiên trên thế giới
Indira Gandhi, Ấn Độ, Thủ tướng, 1966-1977, 1980-1984
Golda Meir, Israel, Thủ tướng, 1969-1974
Isabel Peron, Argentina, Tổng thống, 1974-1976 nữ tổng thống đầu tiên
Elisabeth Domitien, Cộng hòa Trung Phi, Thủ tướng, 1975-1976
Margaret Thatcher, Anh, Thủ tướng, 1979-1990
Maria da Lourdes Pintasilgo, Bồ Đào Nha, Thủ tướng, 1979-1980
Lidia Gueiler Tejada, Bolivia, Thủ tướng, 1979-1980
Dame Eugenia Charles, Dominica, Thủ tướng, 1980-1995
Vigdís Finnbogadóttír, Iceland, Tổng thống, 1980-1996, nữ tổng thống đầu tiên được bầu cử dân chủ
Gro Harlem Brundtland, Na Uy, Thủ tướng, 1981, 1986-1989, 1990-1996
Milka Planinc, Nam Tư, Chủ tịch Hội đồng Hành pháp Liên bang, 1982-1986, nữ thủ tướng duy nhất của hệ thống xã hội chủ nghĩa
Agatha Barbara, Malta, Tổng thống, 1982-1987
Maria Liberia-Peters, Antilles thuộc Hà Lan, Thủ tướng, 1984-1986, 1988-1993
Corazon Aquino, Philippines, Tổng thống, 1986-1992
Benazir Bhutto, Pakistan, Thủ tướng, 1988-1990, 1993-1996
Kazimiera Danuta Prunskiena, Litva, Thủ tướng, 1990-1991
Violeta Barrios de Chamorro, Nicaragua, Thủ tướng, 1990-1996
Mary Robinson, Ireland, Tổng thống, 1990-1997
Ertha Pascal Trouillot, Haiti, Tổng thống lâm thời, 1990-1991
Sabine Bergmann-Pohl, Cộng hòa dân chủ Đức, nguyên thủ quốc gia, 1990 -- nữ nguyên thủ duy nhất của CHDC Đức (thực ra bà là Chủ tịch Quốc hội, nhưng lúc đó định chế Hội đồng Nhà nước CHDC Đức đã bị hủy bỏ, nên bà được xem như nguyên thủ luôn)
Aung San Suu Kyi, Myanma (Burma), Thủ tướng: Đảng của bà thắng 80% trong lần tuyển cử tự do 1990 nhưng quân đội từ chối kết quả. Bà được giải Nobel Hòa bình năm 1991
Khaleda Zia, Bangladesh, Thủ tướng, 1991-1996
Édith Cresson, Pháp, Thủ tướng, 1991-1992
Hanna Suchocka, Ba Lan, Thủ tướng, 1992-1993
Kim Campbell, Canada, Thủ tướng, 1993
Sylvie Kinigi, Burundi, Thủ tướng, 1993-1994
Agathe Uwilingiyimana, Rwanda, Thủ tướng, 1993-1994
Susanne Camelia-Romer, Antilles thuộc Hà Lan, Thủ tướng, 1993, 1998-
Tansu Çiller, Thổ Nhĩ Kỳ, Thủ tướng, 1993-1996 (1993-96, not -95)
Chandrika Bandaranaike Kumaratunga, Sri Lanka, Thủ tướng, 1994, Tổng thống, 1994-2005 (con gái của Sirimavo Bandaranaike) -- Kumaratunga, not Kumaratunge
Reneta Indzhova, Bulgaria, Thủ tướng lâm thời, 1994-1995
Claudette Werleigh, Haiti, Thủ tướng, 1995-1996
Sheikh Hasina Wajed, Bangladesh, Thủ tướng, 1996-
Mary McAleese, Ireland, Tổng thống, 1997-nay
Pamela Gordon, Bermuda, Thủ tướng, 1997-1998
Janet Jagan, Guyana, Thủ tướng, 1997, Tổng thống, 1997-1999
Jenny Shipley, New Zealand, Thủ tướng, 1997-1999
Rosalia Arteaga, Ecuador, Phó tổng thống và Tổng thống 1997-1999
Ruth Dreifuss, Thụy Sĩ, Tổng thống, 1999-2000
Jennifer Smith, Bermuda, Thủ tướng, 1998-
Nyam-Osoriyn Tuyaa, Mông Cổ, quyền Thủ tướng, tháng 7, 1999
Helen Clark, New Zealand, Thủ tướng, 1999-nay
Mireya Elisa Moscoso de Arias, Panama, Tổng thống, 1999-
Vaira Vike-Freiberga, Latvia, Tổng thống, 1999-nay
Tarja Kaarina Halonen, Phần Lan, Tổng thống, 2000-nay
Michelle Bachelet, Chile, Tổng thống, mới đắc cử 2006
Gloria Macapagal-Arroyo, Philippines, Tổng thống, 2001-nay
Copy from : “http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_n%E1%BB%AF_nguy%C3%AAn_th%E1%BB%A7_ qu%E1%BB%91c_gia”
Sau quá trình "chất vấn" qua Y!M vơi SmallLove, chỉ trong vòng 5 phút bạn đã tìm được danh sách khổng lồ này! Thật đáng khen cho khả năng của SmallLove! Một đại diện cho CTO's Women Talents!
Ẩn số tiếp theo là:
"Tiền polymer của nước ta được ngân hàng đưa vào lưu thông chính thức vào thời gian nào?"
Từ 17/12/2003 đến 30/08/2006 đã lần lượt phát hành 6 loại tiền polymer. Các loại tiền này lưu hành song song với tiền giấy làm bằng cotton. Nhưng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngừng in loại tiền giấy làm bằng cotton khác kể từ khi sản xuất tiền mới bằng vật liệu polymer.
[sửa] Thời gian phát hành tiền polymer
Thời gian phát hành đã được tính toán phù hợp tình hình kinh tế và nhu cầu thị trường cũng như yêu cầu chống làm giả của đồng tiền.
Lần đầu 2 loại tiền mới polymer mệnh giá 50.000 đồng và loại có mệnh giá lớn nhất từ trước tới lúc phát hành là loại tiền polymer mệnh giá 500.000 đồng vào ngày 17 tháng 12 năm 2003. Trong số tiền phát hành có 20 triệu tờ 50.000 đồng do công ty Úc in.
Vào ngày 5 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 841 cho phép phát hành đồng tiền mới 100.000 đồng, trong đó yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải thông báo trước việc phát hành đồng tiền mới trước 10 đến 15 ngày đồng tiền đi vào lưu thông.[6] Trên cơ sở đó ngày 17 tháng 8 năm 2004 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy tuyên bố kể từ 01 tháng 9 năm 2004 sẽ đưa vào lưu thông tiền 100.000 đồng mới, in trên giấy polymer, nhằm nâng cao khả năng chống giả của đồng tiền. Ông cho biết, vấn nạn tiền giả đang tiếp tục gia tăng tại Việt Nam, trong đó 100.000 đồng là một trong những mệnh giá bị làm giả nhiều nhất. Có những yếu tố trên tờ 100.000 đồng cotton giả không thể phát hiện được ở máy soi tiền thông thường mà phải kết hợp với bàn tay của các cán bộ kiểm ngân có kinh nghiệm chính vì vậy việc đưa vào lưu thông tờ 100.000 đồng mới là cần thiết và đúng lúc. Song ông không cho biết số lượng tiền phát hành[7]
Ngày 3 tháng 5 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chính thức công bố việc đưa vào lưu thông loại tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng. và phát hành vào ngày 17 tháng 5 năm 2006. Sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa tiền polymer loại 20.000 đồng vào lưu thông, tiền 20.000 đồng bằng giấy cotton vẫn có giá trị lưu hành.
Vào ngày 15 tháng 8 năm 2005 Ngân hàng nhà nước thông báo phát hành tiền mới polymer mệnh giá 10.000 đồng và 200.000 đồng vào ngày 30 tháng 8 năm 2006.
Đến lúc này đã có 6 loại tiền polymer phát hành, riêng các loại có mệnh giá từ 5.000 đồng trở xuống sẽ được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bằng tiền xu.
from: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n_polymer#Ph.C3.A1t_h.C3.A0nh_ti.E1.BB. 81n_polymer_.E1.BB.9F_Vi.E1.BB.87t_Nam
smalllove
28-05-2007, 14:15
Các đồng tiền Việt Nam đang lưu hành
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với đơn vị tiền tệ là “đồng”, ký hiệu quốc gia (viết tắt) là “đ”.
Hệ thống tiền tệ của Việt Nam đang lưu hành hiện nay bao gồm 2 loại, tiền giấy và tiền kim loại.
Tiền giấy có 12 mệnh giá: 500.000đ, 200.000đ, 100.000đ, 50.000đ, 20.000đ, 10.000đ, 5.000đ, 2.000đ, 1.000đ, 500đ, 200đ và 100đ.
Tiền kim loại có 5 mệnh giá: 5.000đ, 2.000đ, 1.000đ, 500đ và 200đ.
1. Tiền giấy
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn áp dụng kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới trong việc sản xuất tiền giấy, nhằm nâng cao chất lượng in ấn cũng như tính bảo an của đồng tiền Việt Nam. Do đó có những thời điểm, trong lưu thông có 2 đồng tiền cùng mệnh giá (giá trị ngang nhau), nhưng khác nhau về mẫu thiết kế (hình thức) cùng song song lưu hành.
Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung vào lưu thông 2 đồng tiền mệnh giá 500.000đ và 50.000đ được in trên chất liệu giấy polymer. Ngày 01 tháng 9 năm 2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành bổ sung loại tiền giấy polymer mệnh giá 100.000đ. Ngày 17 tháng 5 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục phát hành vào lưu thông đồng tiền polymer mệnh giá 20.000đ. Và ngày 30 tháng 8 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa vào lưu thông 2 đồng tiền mệnh giá 200.000đ và 10.000đ in trên giấy polymer. Như vậy, hiện nay trong lưu thông, mệnh giá 100.000đ, 50.000đ, 20.000đ và 10.000đ có 2 mẫu thiết kế, in trên chất liệu giấy nền polymer và cotton cùng song song lưu hành.
Giấy bạc 500.000 đồng. Ngày phát hành: 17/12/2003
Giấy bạc 200.000 đồng. Ngày phát hành: 30/8/2006
Giấy bạc 100.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
- Ngày phát hành: 01/9/2000
Giấy bạc 100.000 đồng (loại mới in trên polymer).
- Ngày phát hành: 01/9/2004
Giấy bạc 50.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
- Ngày phát hành: 15/10/1994
Giấy bạc 50.000 đồng (loại mới in trên polymer).
- Ngày phát hành: 17/12/2003
Giấy bạc 20.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
- Ngày phát hành: 02/3/1993
Giấy bạc 20.000 đồng (loại mới in trên polymer).
- Ngày phát hành: 17/5/2006
Giấy bạc 10.000 đồng (loại cũ in trên giấy cotton).
- Ngày phát hành: 15/10/1994
Giấy bạc 10.000 đồng (loại mới in trên polymer).
- Ngày phát hành: 30/8/2006
Giấy bạc 5.000 đồng. Ngày phát hành: 15/01/1993
Giấy bạc 2.000 đồng. Ngày phát hành: 20/10/1989
Giấy bạc 1.000 đồng. Ngày phát hành: 20/10/1989
Giấy bạc 500 đồng. Ngày phát hành: 15/8/1989
Giấy bạc 200 đồng. Ngày phát hành: 30/9/1987
Giấy bạc 100 đồng. Ngày phát hành: 02/5/1992
2. Tiền kim loại
Ngày 17 tháng 12 năm 2003, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phát hành tiền kim loại vào lưu thông với 3 mệnh giá: 5.000đ, 1.000đ và 200đ. Ngày 01 tháng 4 năm 2004 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành thêm 2 mệnh giá: 2.000đ và 500đ. Việc phát hành trở lại tiền kim loại không chỉ đánh dấu sự ổn định về mặt giá trị của đồng tiền Việt Nam trong thời gian qua, mà còn là bước đi nhằm hoàn thiện hệ thống tiền tệ Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế, tiết giảm chi phí phát hành đối với đồng tiền có mệnh giá nhỏ.
Đồng tiền 5.000đ. Ngày phát hành: 17/12/2003
Đồng tiền 2.000đ. Ngày phát hành: 01/4/2004
Đồng tiền 1.000đ. Ngày phát hành: 17/12/2003
Đồng tiền 500đ. Ngày phát hành: 01/4/2004
Đồng tiền 200đ. Ngày phát hành: 17/12/2003
Copy from : http://www.sbv.gov.vn/CdeHTTT/cdehttt.asp
Một sự trùng hợp khá thú vị!
bboyKen rồi đến SmallLove trong vòng tích tắc của quả lắc đồng hồ! Các bạn hãy rút ngắn thời gian chờ này hơn nữa nhé! Mình rất thích những câu trả lơì immediately!!
Tiếp theo đây mới là phần hấp dẫn:
"Bạn có biết VND được in ra từ đâu không?"
smalllove
28-05-2007, 14:53
Nguồn gốc tiền giấy của VN hay chỉ những loại tiền giấy hiện đại bây giờ ?
theboylove
28-05-2007, 15:20
ủa mà smallove ơi tiền giấy có mệnh giá 100đ hả
Tiền mà sáng sáng chúng ta dùng để mua bánh mì ăn đấy!
ax Theo Ken biết thì ở VN chúng ta ko có chỗ in tiền, tiền được in từ bên Trung Quốc và đem qua VN thôi hix ko biết có đúng ko.
Gợi ý cho các bạn là bboyKen không đoán trúng phần nào hết! :haha:
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=74563
Chuyện in tiền rất thú vị các bạn tiếp tục đi! Tuy ai cũng biết xài tiền nhưng những gì phía sau vật mang theo hình Bác này đối với nhiều người vẫn còn là một bí ẩn!
smalllove
29-05-2007, 15:11
Giấy nền polymer trong công nghệ in tiền
Những tiến bộ về kỹ thuật in, sao chụp với sự hỗ trợ của các loại máy tính thế hệ mới sẵn có trên thị trường đang làm cho nguy cơ tiền giả luôn tiềm ẩn và có chiều hướng gia tăng. Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải không ngừng nâng cao khả năng chống giả của đồng tiền, cải tiến, bổ sung các mẫu tiền mới một cách thường xuyên hơn và ứng dụng tiến bộ công nghệ về chế tạo vật liệu bởi theo ý kiến của các chuyên gia chống giả, sử dụng chất liệu in tiền mới là giải pháp quan trọng và có hiệu quả dài hạn. Polymer là chất liệu đáp ứng được những yêu cầu này, cho phép tạo ra những đồng tiền có khả năng chống giả cao, bền và sạch hơn tiền giấy truyền thống. Từ năm 1967, Ngân hàng Dự trữ Australia bắt đầu nghiên cứu, ứng dụng chất liệu polymer vào công nghệ in tiền. Năm 1988, Australia in thử nghiệm đồng tiền lưu niệm trên giấy nền polymer. Năm 1992, Australia chính thức phát hành đồng tiền polymer đầu tiên trên thế giới. Hơn một thập kỷ sau, tiền polymer được phát hành ở 18 nước, trong đó, Australia, Newzealand và Rumani hoàn toàn sử dụng tiền polymer thay cho tiền giấy truyền thống. Thực tế ở những nước này đã khẳng định tiền polymer có chất lượng cao trong lưu thông và ngăn chặn có hiệu quả nạn tiền giả.
Khác với các loại nhựa thông dụng, giấy nền polymer được sản xuất theo quy trình công nghệ đặc biệt, chuyên dùng cho in tiền. Có thể mô tả khái quát quy trình này gồm hai công đoạn: sản xuất phim và in phủ. Ban đầu, một chất nhựa tổng hợp đặc biệt có nguồn gốc từ dầu mỏ được làm nóng chảy và thổi vào đó luồng khí nén có áp suất lớn để tạo ra màng nhựa mỏng dạng bong bóng. Khi hút mạnh không khí ra, màng nhựa này sẽ đi qua thiết bị đặc chủng và được cán phẳng thành phim trong suốt, có độ đàn hồi và kích thước hợp lý. Tiếp theo, phim sẽ được in phủ bởi nhiều lớp hoá chất đặc biệt phù hợp với việc in tiền và tạo thành giấy nền polymer. Công đoạn này không những cài đặt các yếu tố bảo an tương tự như giấy in tiền truyền thống (hình bóng chìm, dây bảo hiểm...) mà còn tạo ra những cửa sổ trong suốt hai mặt (vùng không được in phủ), cho phép sử dụng công nghệ cao để cài đặt yếu tố hình ẩn, yếu tố chống giả đặc trưng của tiền polymer. Mặc dù giấy nền polymer được sản xuất bởi công nghệ mới nhưng quá trình in tiền polymer vẫn sử dụng mực in và thiết bị, công nghệ như in tiền giấy truyền thống, ngoại trừ có thêm công đoạn in phủ véc-ni để bảo vệ lớp mực in trên đồng tiền trong quá trình lưu thông. Giấy nền polymer có nhiều tính chất tương tự như giấy in truyền thống nên hầu hết các yếu tố bảo an hiện nay của tiền giấy đều áp dụng được trên chất liệu polymer như hình định vị, in lõm... Ngoài ra, chất liệu polymer còn cho phép in những nét mảnh, siêu nhỏ tinh xảo hơn so với in trên giấy truyền thống nên hiệu quả chống sao chụp cao hơn. Đáng lưu ý là quá trình in tiền polymer sẽ tạo ra hình dập nổi trên cửa sổ trong suốt. Hình ẩn và hình dập nổi trong cửa sổ là yếu tố bảo an độc đáo của tiền polymer, dễ nhận biết đối với người tiêu dùng nhưng rất khó làm giả bằng các phương thức in, sao chụp mà bọn tội phạm thường sử dụng. Có thể cho rằng, đồng tiền polymer là sản phẩm của sự kết hợp hài hoà giữa chất liệu nền được sản xuất theo công nghệ tiên tiến và kỹ thuật in tiền hiện đại, đáp ứng những yêu cầu cao về mức độ bảo an của đồng tiền.
Sử dụng tiền polymer không những nâng cao khả năng chống giả của đồng tiền trong lưu thông mà còn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Thực tế ở những nước sử dụng tiền polymer cho thấy, bình quân loại tiền này có tuổi thọ trong lưu thông cao hơn 3 lần so với tiền giấy. Vì vậy, mặc dù chi phí ban đầu để in tiền polymer có thể cao hơn so với tiền giấy nhưng sẽ tiết kiệm và giảm đáng kể chi phí phát hành tiền trong dài hạn. Đây là kết quả tất yếu bởi giấy nền polymer có kết cấu đồng nhất (không có cấu tạo sợi) nên có độ bền cơ học cao hơn các loại giấy sản xuất từ sợi xenlulô, bông hay lanh. Mặt khác, giấy nền polymer không thấm nước và đồng tiền polymer còn được in phủ các lớp véc-ni bảo vệ nên đồng tiền không hút ẩm, chất lỏng hay các các tạp chất khác trong quá trình lưu thông, nhờ vậy, có thể làm sạch đồng tiền polymer bằng nước và lau nhẹ khi đồng tiền bị dính chất bẩn trên bề mặt. Đây là điều không thể thực hiện đối với tiền giấy bởi trong trường hợp tương tự, chất bẩn sẽ thẩm thấu sâu vào trong nền giấy cotton, làm đồng tiền nhanh bị hư hỏng. Mặt khác, tiền polymer cũng không bị mủn, nhàu nát và không tạo ra “bụi tiền” như tiền giấy bởi giấy nền polymer có kết cấu đồng nhất và bền vững. Do vậy, sử dụng tiền polymer sẽ nâng cao năng suất, hiệu quả kiểm đếm, phân loại tiền bằng máy và các thiết bị quản lý tiền tự động (ATM...). Ngoài ra, sử dụng tiền polymer sạch và bền hơn, không ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng cũng góp phần bảo vệ môi trường.
Đối với nước ta, tiền giả là vấn đề bức xúc, có biểu hiện và diễn biến phức tạp. Theo giới chuyên môn, nhiều trường hợp tiền giả phát hiện được cho thấy bọn tội phạm đã sử dụng trang, thiết bị kỹ thuật để làm giả khá tinh vi với số lượng lớn. Để nâng cao khả năng chống giả của đồng tiền Việt Nam, vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã phát hành hai đồng tiền mới, mệnh giá 50.000đ và 500.000đ được in trên chất liệu polymer với mẫu thiết kế hiện đại. Đây là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đồng tiền Việt Nam, ngăn chặn nạn tiền giả. Công nghệ in tiền trên chất liệu polymer đã được kiểm chứng, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội ở nhiều nước trên thế giới. Thực tế, đồng tiền polymer 50.000đ, 500.000đ mới phát hành vừa qua đã và đang phát huy hiệu quả tích cực, khẳng định chất lượng trong lưu thông bởi chính những ưu điểm của giấy nền polymer và ứng dụng công nghệ in tiền tiên tiến.
Tuy nhiên, giấy nền polymer cũng có những hạn chế nhất định. Vì vậy, để phát huy đầy đủ hiệu quả của đồng tiền polymer mới, cần có cách sử dụng, bảo quản phù hợp với tính chất của loại vật liệu này. Thứ nhất, do được in trên giấy nền polymer nên đồng tiền dễ bị biến dạng khi tiếp xúc hoặc để gần ngọn lửa hay nguồn nhiệt cao như bàn là, bếp lò....Thực tế thời gian qua đã có một số trường hợp người dân do chưa nắm vững cách bảo quản nên sơ ý để đồng tiền polymer tiếp xúc với nhiệt độ cao, làm đồng tiền bị biến dạng. Thứ hai, giấy nền polymer có kết cấu đồng nhất nên đồng tiền mới rất khó bị làm rách trong điều kiện lưu hành bình thường nhưng khi kết cấu này bị phá vỡ (bị cắt ở cạnh hay thủng) thì đồng tiền polymer rất dễ bị rách. Thứ ba, cũng giống như đồng tiền in trên giấy cotton truyền thống, đồng tiền polymer nếu bị vò, xiết mạnh theo nếp gấp, đồng tiền sẽ bị nhàu và mực in sẽ bị mài mòn nhanh hơn trong quá trình lưu thông. Tuy nhiên, những nếp gấp thông thường trên đồng tiền polymer sẽ được làm phẳng khi ép nhẹ đồng tiền trên bề mặt phẳng trong một thời gian nhất định. Như vậy, để hạn chế tối đa những tổn thất không đáng có, người sử dụng nên giữ phẳng đồng tiền, không gấp và xiết mạnh đồng tiền, tránh để đồng tiền ở gần nguồn nhiệt cao.
Tuấn Ngọc
Copy from http://www.sbv.gov.vn/home/nghiencuu.asp?tin=32
tumickey
29-05-2007, 15:16
đúng là khoai thiệt . À VN có tự sản xuất tiền được mà lúc trước có chiếu trên tivi đaì VTV1 nói về dụ polyme đó mà hồi đó coi ko chú ý lắm
à gởi mọi người cái náy
Sơ lược quá trình sản xuất tiền polymer
http://www.youtube.com/watch?v=Ere1orNZmk0
Vẫn chưa có thông tin nào mang màu sắc của lò in tiền Việt Nam phải không?
Không dễ dàng chút nào!!! :haha:
danny_nguyen0412
29-05-2007, 19:27
Cách đây tròn 61 năm, ngày 3-2-1946 tức mùng hai Tết Bính Tuất, một sự kiện đã làm nức lòng nhân dân cả nước: tờ giấy bạc đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam đã được đưa ra, thay thế cho các đồng tiền cũ làm kẻ thù của chúng ta choáng váng. Mùa xuân năm sau-mùa xuân đầu tiên ngay sau ngày Toàn quốc kháng chiến, những “Tờ giấy bạc Cụ Hồ” vẫn tiếp tục được sản xuất và lưu hành, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Thế giới lúc đó vô cùng ngạc nhiên không hiểu vì sao chính quyền non trẻ của cách mạng Việt Nam vẫn có thể in được tiền trong điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn...
GIÁP Tết nguyên đán Đinh Hợi (2007), tôi được Bộ Tài chính mời dự cuộc tọa đàm khoa học Nhà máy in tiền đầu tiên của chính quyền cách mạng tại khu di tích đồn điền Chi Nê-Hòa Bình. Tham dự cuộc tọa đàm có các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hòa Bình, các nhà sử học và nhiều nhân chứng lịch sử.
Theo ông Nguyễn Dược, nguyên thư ký Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và tiến sĩ Đinh Quang Hải, cán bộ Viện Sử học: Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền non trẻ của chúng ta gặp phải muôn vàn khó khăn, thử thách mà một trong những khó khăn lớn nhất là ngân khố quốc gia trống rỗng. Cùng với việc thành lập Quỹ Độc lập, phát động Tuần lễ vàng, Chính phủ đã quyết định thành lập Cơ quan Ấn loát, tức Nhà máy in bạc thuộc Bộ Tài chính để phát hành tờ bạc Việt Nam độc lập, một vũ khí sắc bén đấu tranh trên mặt trận tín dụng tiền tệ và bảo đảm cung cấp cho nhu cầu chi tiêu cần kíp của xã hội. Nan giải nhất trong việc in tiền là nhà in đã được ông Đỗ Đình Thiện, nhà tư sản yêu nước giải quyết bằng cách mua lại toàn bộ nhà in Tô-panh (một trong hai nhà in lớn và hiện đại nhất lúc đó ở Hà Nội) để hiến tặng Nhà nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, đồng tiền của nước Việt Nam độc lập đã được in thành công.
Đầu năm 1946, sau khi cân nhắc mọi mặt, Chính phủ ta quyết định chọn miền Nam Trung Bộ làm nơi phát hành tiền đầu tiên (Sắc lệnh số 18/B-SL ngày 31-1-1946). Ngày 3-2-1946, tức mùng hai Tết năm Bính Tuất, ở hầu hết các tỉnh miền Nam Trung Bộ, đồng tiền (giấy bạc) Việt Nam được tung ra và được nhân dân đặc biệt hoan nghênh.
Từ tháng 3 năm 1946, quân Tưởng và quân Pháp thường xuyên khiêu khích nhà máy in tiền của ta. Trước tình hình đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã ra lệnh cho sơ tán một bộ phận của nhà máy lên xã Cổ Nghĩa, huyện Lạc Thủy (lúc đó thuộc tỉnh Hà Nam, nay thuộc tỉnh Hòa Bình). Bộ phận sơ tán này đóng tại đồn điền Chi Nê của vợ chồng ông Đỗ Đình Thiện, người đã bỏ tiền mua nhà in Tô-panh hiến tặng Nhà nước.
Đến tháng 8 năm 1946, đồng tiền Việt Nam được chính thức phát hành ở Bắc Trung Bộ. Ngày 31-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa họp kỳ thứ hai quyết định phát hành tiền Việt Nam và tổ chức thu hồi, đổi tiền Đông Dương trên toàn quốc.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), nhà máy in tiền của ta đặt tại Chi Nê vẫn tiếp tục hoạt động. Công nhân làm việc chủ yếu từ 4 giờ chiều đến 3 giờ sáng hôm sau.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Tình, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh: Sáng ngày 21-2-1947, Bác Hồ đã đến thăm nhà máy in tiền tại Chi Nê. Bác động viên cán bộ, công nhân viên nhà máy nỗ lực cống hiến góp phần cho kháng chiến và tin tưởng vào thắng lợi. Người nói “Hiện nay kẻ thù của chúng ta đang tìm các cơ sở kháng chiến như nhà máy này để đánh phá. Các chú phải giữ gìn bí mật”. Tối 21-2-1947, Bác rời Chi Nê. Đúng như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22-2-1947, máy bay của thực dân Pháp đã oanh tạc đồn điền Chi Nê. Nhật ký của Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi: Tại khu vực đồn điền, máy bay Pháp thả 8 quả bom, 2 quả trúng nhà của ông bà Đỗ Đình Thiện. Cơ quan ấn loát bị trúng đạn, kho cà phê và kho vật liệu bị cháy nhưng máy móc không bị hư hỏng.
Khi được báo cáo về sự oanh tạc của máy bay Pháp vào đồn điền Chi Nê, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho gia đình ông Đỗ Đình Thiện. Thư của Bác viết: “Chú thím Thiện. Được tin chú thím, nhà Hiền và các cháu đều bình an, tôi rất vui lòng. Mất của cải không sợ. “Còn trời còn nước còn non, thì còn của cải bà con họ Hồ”. Kháng chiến thành công, ta làm ra của khác, chắc chắn hơn. Chúc các chú thím mạnh khỏe. Hôn các cháu. Chào thân ái và quyết thắng”.
Với sự việc bị bắn phá, nhà máy in tiền xem như bị bại lộ, Bộ trưởng Lê Văn Hiến đã quyết định di dời nhà máy lên Chiêm Hóa (Tuyên Quang) để tiếp tục in tiền phục vụ cuộc kháng chiến và kiến quốc.
Được biết UBND tỉnh Hòa Bình đã có công văn đề nghị Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận cụm di tích lịch sử cách mạng: Nhà máy in tiền tại Chi Nê-Kho bạc Nhà nước tại xóm Đồng Thung-Di tích nơi Bác Hồ về thăm ngày 21-2-1947.
ĐỖ PHÚ THỌ
(theo báo Quân Đội Nhân Dân)
Mừng quá! Vậy là đã xuất hiện một bài mang "màu sắc" của lò in tiền rồi đấy!
"Nhà máy in tiền tại Chi Nê" - Hiện nay đã trở thành một trong những Khu di tích lịch sử của tỉnh Hòa Bình.
Nghĩa là nơi xuất thân của những giấy bạc polymer và những đồng tiền xu mà chúng ta xài hiện nay vẫn còn nằm ở một nơi thực sự bí ẩn!!! :haha:
danny_nguyen0412
29-05-2007, 21:14
Hiiii vậy mình có phải là người thắng cuộc trong trò chơi này ko vậy nhtuong
danny_nguyen0412
29-05-2007, 21:31
Tiếp nè :look_down:
Đồng (VND) là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Nó có ký hiệu là ₫. Nó có giá trị bằng 100 xu hay 10 hào. Hai đơn vị xu và hào vì quá nhỏ nên không còn được phát hành nữa. Tiền giấy được phát hành hiện nay có giá trị 100₫, 200₫, 500₫, 1000₫, 2000₫, 5000₫, 10.000₫, 20.000₫, 50.000₫, 100.000₫, 200.000₫ và 500.000₫. Đồng thời cũng có tiền kim loại trị giá 100₫, 200₫,500₫, 1000₫, 2000₫ và 5000₫.
Từ thời Bắc thuộc, qua các thời Đinh, Lý, Trần tiền Việt Nam được đúc bằng đồng. Đến nhà Hồ, tiền đồng bị thay thế bởi tiền giấy. Nhà Lê sau khi lấy lại nước Việt từ nhà Minh quay trở lại sử dụng tiền đồng. Tiền đồng được tiếp tục lưu hành ở Việt Nam trong phần còn lại của thời phong kiến. Song song với tiền đồng, các loại thoi bạc, thoi vàng và tiền bạc, tiền vàng cũng xuất hiện từ khoảng năm 1820, cuối đời vua Nguyễn Thế Tổ (Gia Long), đầu đời vua Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng).
Trong thời kỳ Việt Nam là một phần của Đông Dương dưới sự kiểm soát của Pháp, đơn vị tiền tệ của khu này là piastre, được dịch ra tiếng Việt là "đồng" hay đôi khi "bạc". Sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, miền Bắc và miền Nam có hai chế độ khác nhau, mỗi chế độ in tiền riêng, đều gọi là đồng. Sau 30 tháng 4 năm 1975, tiền miền Nam phải đổi thành tiền giải phóng với giá 500 đồng miền Nam cho mỗi đồng giải phóng từ Quảng Nam-Đà Nẵng trở vào, ở Thừa Thiên-Huế trở ra 1000 đồng tiền miền Nam đổi được 3 đồng tiền miền Bắc.
Vào năm 1978, sau khi thống nhất hai miền về mặt hành chính, đã có một cuộc đổi tiền nữa. Tỷ giá đổi tiền miền Bắc là 1 đồng cũ thành 1 đồng thống nhất trong khi tại miền Nam 1 đồng giải phóng thành 8 hào tiền thống nhất.
Lần đổi tiền thứ ba xảy ra vào năm 1985, khi 10 đồng tiền cũ đổi thành 1 đồng tiền mới.
Trong tiếng Việt, "đồng" cũng có thể dùng để chỉ đến những đơn vị tiền tệ nước ngoài, đặc biệt là những đơn vị ít người biết đến. Trong một số cộng đồng dùng tiếng Việt ở hải ngoại, đồng cũng có thể dùng để chỉ đến đơn vị tiền tệ địa phương.
Những năm gần đây, Việt Nam cho ra đời tiền kim loại có mệnh giá nhỏ kết hợp với việc in tiền mới (đổi chất liệu in từ giấy cotton sang polymer), nhưng một số tờ tiền mới in đã gặp vài lỗi kĩ thuật
Tiền kim loại và giấy Việt Nam đang lưu hành
Tiền kim loại
200- Quốc huy- Hoa văn dân tộc
500 -Quốc huy- Hoa văn dân tộc
1000- Quốc huy- Thuỷ đình, Đền Đô
2000- Quốc huy -Nhà Rông
5000 -Quốc huy- Chùa Một Cột
Tiền giấy
100 -Hồ Chí Minh- Tháp Phổ Minh
200 -Hồ Chí Minh -Sản xuất nông nghiệp
500 -Hồ Chí Minh -Cảng Hải Phòng
1000 -Hồ Chí Minh- Khai thác gỗ
2000- Hồ Chí Minh- Xưởng dệt
5000 -Hồ Chí Minh -Nhà máy Thuỷ điện Trị An
10000- Hồ Chí Minh- Vịnh Hạ Long
10000 (mới) -Hồ Chí Minh -Cảnh khai thác dầu khí
20000 (cũ) -Hồ Chí Minh- Xưởng sản xuất đồ hộp
20000 (mới)-Hồ Chí Minh- Chùa Cầu, Hội An - Quảng Nam
50000 (cũ) -Hồ Chí Minh -Bến Nhà Rồng
50000 (mới)- Hồ Chí Minh -Huế
100000 (cũ) -Hồ Chí Minh -Nhà sàn Bác Hồ
100000 (mới) -Hồ Chí Minh- Quốc Tử Giám
200000 Hồ Chí Minh -Vịnh Hạ Long
500000 Hồ Chí Minh -Nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh ở làng Kim Liên
(st)
smalllove
29-05-2007, 22:24
:D:, tất cả đều nẳm trên wikipedia, vì thế nên em mới hỏi a Tưởng là tiền xưa hay nay đó ^^, dù sao cũng đang muốn biết tiền hiện giờ - tiền cotton và polymer được sản xuất ở đâu và như thế nào :)
danny_nguyen0412
30-05-2007, 06:32
Chà chà làm khó anh ghê ha okie để trong ngày nay anh sẽ giải đáp thắc mắc này
Lần đầu tiên anh thấy smalllove có vẻ "be confused" như thế này! :haha:
Chẳng lẻ smalllove phải chở anh danny_nguyen0412 tìm ra sao??? :baffle:
smalllove
30-05-2007, 23:48
CHÍNH PHỦ
---------
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số 81/1998/NĐ-CP
-------------------------
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 1998
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Về in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại;
bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá
trong hệ thống ngân hàng
___
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997-QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH :
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại (gọi tắt là tiền); bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống ngân hàng.
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
Nghị định này điều chỉnh các đối tượng sau đây :
- Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) in, đúc và phát hành;
- Tiền mẫu, tiền lưu niệm;
- Giấy tờ có giá gồm : ngân phiếu thanh toán, thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật;
- Tài sản quý gồm : kim khí quý, đá quý, ngoại tệ và các loại tài sản quý khác.
Điều 3. Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan tổ chức thực hiện việc in, đúc và tiêu hủy tiền; bảo quản, vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá; hướng dẫn, kiểm tra việc bảo quản, vận chuyển tiền, tài sản quý, giấy tờ có giá và công tác ngân quỹ của các tổ chức tín dụng.
Chương II
IN, ĐÚC TIỀN
Điều 4. In, đúc thêm tiền đang lưu hành và in, đúc tiền mới chưa công bố lưu hành
1. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước căn cứ kế họach cung ứng tiền tăng thêm được Chính phủ phê duyệt, nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, nhu cầu tiền dự trữ phát hành và nhu cầu thay thế tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông hàng năm để quyết định cơ cấu, số lượng, giá trị tiền đang lưu hành cần in, đúc thêm và giao cho các nhà máy in, đúc tiền thực hiện theo hợp đồng.
2. Ngân hàng Nhà nước xây dựng dự án in, đúc các loại tiền mới chưa công bố lưu hành để bổ sung, thay thế tiền trong lưu thông trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kèm theo dự án phải có thiết kế mẫu về mệnh giá, kích thước, trọng lượng, hình vẽ, hoa văn và các đặc điểm khác của các loại tiền giấy, tiền kim loại mới này.
Điều 5. Thiết kế mẫu tiền
1. Việc thiết kế mẫu tiền do Ngân hàng Nhà nước thực hiện và bảo đảm các yêu cầu :
a) Về hình thức : có tính thẩm mỹ cao, dễ nhận biết, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam;
b) Về kỹ thuật : phải phù hợp với vật liệu, quy trình công nghệ chế bản và in, đúc tiền của các nhà máy; thuận tiện cho việc sử dụng và bảo quản tiền.
2. Ngân hàng Nhà nước tổ chức nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong thiết kế mẫu tiền, bảo đảm cho đồng tiền bền, đẹp và có khả năng chống giả cao; phù hợp với vật liệu, công nghệ chế bản và in, đúc tiền của các nhà máy.
Điều 6. Chế bản in, đúc tiền
Chế bản in, đúc (in, đúc thử và in, đúc chính thức) các loại tiền do các nhà máy in, đúc tiền thực hiện phải tinh xảo, thể hiện đầy đủ nội dung thiết kế mẫu và phù hợp với công nghệ in, đúc tiền của mỗi nhà máy trong từng thời kỳ.
Điều 7. Tổ chức và quản lý việc in, đúc tiền
1. Việc in, đúc tiền do các nhà máy thực hiện theo hợp đồng với Ngân hàng Nhà nước.
2. Các nhà máy in, đúc tiền có nhiệm vụ :
a) Chuẩn bị các loại thiết bị, vật tư, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ cho việc in, đúc tiền theo hợp đồng;
b) Bảo đảm chất lượng tiền in, đúc ổn định theo các thông số kỹ thuật của mỗi loại tiền đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt;
c) Chịu trách nhiệm về số lượng, chất lượng các loại tiền đã in, đúc. Tiền thành phẩm khi giao cho Ngân hàng Nhà nước phải được đóng gói thống nhất theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
d) Lập hồ sơ theo dõi lý lịch từng loại tiền in, đúc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
e) Tổ chức hạch toán kịp thời, chính xác việc in, đúc tiền theo quy định của pháp luật về kế toán - thống kê;
g) Tổ chức bảo quản, theo dõi riêng các loại sản phẩm in, đúc hỏng, không đúng quy cách để tiêu hủy theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
3. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện in, đúc tiền hàng năm, đồng gửi Bộ Tài chính và Bộ Công an.
Điều 8. Ban hành các quy chế
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành các quy chế về :
1. Thiết kế mẫu; làm chế bản in, đúc; quy trình công nghệ in, đúc tiền; tiêu chuẩn kỹ thuật các loại tiền;
2. Bảo mật trong việc in, đúc tiền; khóa mã an toàn trên chế bản gốc tiền giấy, tiền kim loại;
3. Mua thiết bị, vật tư, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ việc in, đúc tiền.
Điều 9. Kiểm tra, giám sát
Bộ Tài chính có trách nhiệm :
1. Kiểm tra chứng từ, sổ sách, việc hạch toán của Ngân hàng Nhà nước về số lượng và giá trị theo mệnh giá các loại tiền in, đúc hàng năm;
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước xây dựng quy chế và trực tiếp giám sát quá trình in, đúc tiền tại các nhà máy.
Chương III
BẢO QUẢN TIỀN, TÀI SẢN QUÝ VÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 10. Trách nhiệm bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá
1. Tiền mới in, đúc chưa giao cho Ngân hàng Nhà nước do các nhà máy in, đúc tiền chịu trách nhiệm bảo quản tại kho của mình theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
2. Trong phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước, các loại tiền chưa công bố lưu hành, tiền đang lưu hành (kể cả tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông), tiền đã đình chỉ lưu hành, tiền mẫu, tiền lưu niệm, tài sản quý và giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm bảo quản.
3. Tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá thuộc tài sản của các tổ chức tín dụng do các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm bảo quản theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Điều 11. Xây dựng và quản lý kho tiền
1. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định tiêu chuẩn kỹ thuật kho tiền, chế độ quản lý kho tiền và dịch vụ bảo quản tài sản trong hệ thống ngân hàng.
2. Ngân hàng Nhà nước được xây dựng các kho tiền trung ương và các kho tiền đặt tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố để bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá do mình quản lý.
3. Các nhà máy in, đúc tiền; các tổ chức tín dụng được xây dựng hệ thống kho tiền để bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá trong phạm vi quản lý của đơn vị mình.
Điều 12. Bảo vệ kho tiền
1. Bộ Công an có trách nhiệm bảo vệ các nhà máy in, đúc tiền; các kho tiền trung ương và các kho tiền đặt tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.
2. ủy ban nhân dân các cấp nơi có kho tiền thuộc hệ thống Ngân hàng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ an toàn kho tiền.
Chương IV
VẬN CHUYỂN TIỀN, TÀI SẢN QUÝ VÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 13. Phạm vi, trách nhiệm tổ chức vận chuyển
1. Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá do mình quản lý trong phạm vi :
a) Từ các nhà máy in, đúc tiền, sân bay, bến cảng, nhà ga về các kho tiền trung ương và ngược lại;
b) Giữa các kho tiền trung ương;
c) Giữa các kho tiền trung ương với các kho tiền chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố;
d) Giữa các kho tiền chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.
2. Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá thuộc tài sản do mình quản lý giữa các đơn vị trong cùng hệ thống và giữa tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước.
Điều 14. Phương tiện vận chuyển
Ngân hàng Nhà nước được thành lập các đội xe làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá. Các đội xe này được trang bị xe chuyên dùng cùng các phương tiện kỹ thuật cần thiết.
Điều 15. Nguyên tắc vận chuyển
1. Việc vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng phải bảo đảm các nguyên tắc :
a) Phải có lệnh điều chuyển của cấp có thẩm quyền;
b) Vận chuyển bằng xe chuyên dùng hoặc phương tiện vận chuyển chuyên dùng;
c) Bố trí đủ nhân lực áp tải, bảo vệ trong các chuyến vận chuyển;
d) Giữ bí mật hành trình vận chuyển.
2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tiêu chuẩn xe, phương tiện vận chuyển và phương tiện kỹ thuật chuyên dùng; quy trình vận chuyển tiền, tài sản quý, giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng.
Điều 16. Bảo vệ việc vận chuyển
1. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức lực lượng bảo vệ an toàn các chuyến vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước khi được yêu cầu phối hợp.
2. Nghiêm cấm các trạm kiểm soát, các đội tuần tra cơ động khám xét dọc đường đối với xe và các phương tiện vận chuyển chuyên dùng đang làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng; trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy phép ưu tiên cho các phương tiện làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước để đi trong giờ cao điểm, qua các cầu phà và vào các đường cấm.
4. ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng xử lý kịp thời những sự cố xảy ra trong các chuyến vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng xảy ra trên địa bàn khi được thông báo.
Chương V
TIÊU HỦY TIỀN
Điều 17. Loại tiền tiêu hủy
Tiền được tiêu hủy bao gồm :
1. Các loại tiền giấy, tiền kim loại không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
2. Các loại tiền đã đình chỉ lưu hành.
Điều 18. Quản lý tiêu hủy tiền.
1.Hàng năm hoặc từng thời kỳ, căn cứ tồn kho các loại tiền nêu ở Điều 17, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định số lượng, giá trị của từng loại tiền phải tiêu huỷ.
2. Việc tiêu hủy tiền được tiến hành thường xuyên, thời gian tiêu hủy do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định và chỉ thực hiện tại các kho tiền trung ương của Ngân hàng Nhà nước.
3. Tiền tiêu hủy phải trở thành phế liệu và không thể phục hồi để sử dụng được dưới bất kỳ hình thức nào.
4. Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán đầy đủ, chính xác tiền tiêu hủy; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả tiêu hủy tiền từng đợt và cả năm, đồng gửi Bộ Tài chính và Bộ Công an.
Điều 19. Hạch toán tiền bán phế liệu
Tiền thu từ bán phế liệu tiêu hủy tiền được hạch toán vào khoản thu nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước.
Điều 20. Tổ chức tiêu hủy tiền
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế tiêu hủy tiền; thành lập bộ máy chuyên trách để tổ chức tiêu hủy tiền.
Điều 21. Giám sát tiêu hủy tiền
1. Bộ Tài chính chủ trì, cùng với Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước xây dựng quy chế giám sát và cử cán bộ giám sát quá trình tiêu hủy tiền; xác nhận kết quả tiêu hủy tiền của Ngân hàng Nhà nước.
2. Bộ Tài chính kiểm tra chứng từ, sổ sách hạch toán của Ngân hàng Nhà nước về tiêu hủy tiền hàng năm.
Chương VI
CHI PHÍ IN, ĐÚC, BẢO QUẢN, VẬN CHUYỂN
VÀ TIÊU HỦY TIỀN
Điều 22. Chi phí thường xuyên
Chi phí thường xuyên hàng năm cho việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy các loại tiền được thực hiện và quản lý theo chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước.
Điều 23. Chi phí in, đúc tiền mới
Chi phí liên quan đến việc in, đúc các loại tiền mới chưa công bố lưu hành để bổ sung, thay thế cơ cấu tiền trong lưu thông được hạch toán riêng theo dự án được Chính phủ phê duyệt. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý, kiểm tra theo chế độ bảo mật và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung và tính chất các khoản chi, đồng gửi Bộ Tài chính.
Điều 24. Kiểm tra chi tiêu
Bộ Tài chính kiểm tra việc thực hiện chi tiêu cho công tác in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền của Ngân hàng Nhà nước.
Chương VII
TIỀN MẪU, TIỀN LƯU NIỆM
Điều 25. Tiền mẫu
1. Tiền mẫu là đồng tiền chính thức của Việt Nam, có thêm chữ ''tiền mẫu'' hoặc chữ ''Specimen''. Tiền mẫu được dùng làm chuẩn để đối chứng trong nghiệp vụ phát hành tiền và không có giá trị làm phương tiện thanh toán trong lưu thông.
2. Ngân hàng Nhà nước có thể bán tiền mẫu cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dùng làm vật đối chứng, sưu tập hoặc lưu niệm
Điều 26. Tiền lưu niệm
1. Tiền lưu niệm là đồng tiền tượng trưng không có giá trị làm phương tiện thanh toán, được phát hành cho mục đích sưu tập, lưu niệm hoặc mục đích khác.
2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt mẫu thiết kế, quyết định chất liệu, mệnh giá và số lượng các loại tiền lưu niệm cần in, đúc.
3. Ngân hàng Nhà nước tự tổ chức sản xuất hoặc hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước sản xuất và tiêu thụ tiền lưu niệm.
Điều 27. Quản lý tiền mẫu, tiền lưu niệm
1.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế quản lý tiền mẫu, tiền lưu niệm.
2.Các khoản thu - chi về sản xuất, tiêu thụ tiền mẫu, tiền lưu niệm được hạch toán vào thu - chi nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước.
Chương VIII
KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT
Điều 28. Khen thưởng
Hàng năm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, khen thưởng hoặc trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện các quy định của Nghị định này.
Điều 29. Xử lý vi phạm
Các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Nghị định này, tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 30. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những văn bản trước đây trái với Nghị định này đều hết hiệu lực.
Điều 31. Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
Điều 32. Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này ./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Nơi nhận :
- Thường vụ Bộ Chính trị,
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ,
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ,
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương,
- Văn phòng Quốc hội,
- Văn phòng Chủ tịch nước,
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng, Phan Văn Khải đã ký
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,
- Tòa án nhân dân tối cao,
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể,
- Công báo,
- VPCP : BTCN, các PCN, các Cục, Vụ,
- Lưu : KTTH (3b), VT.
-----------------------------
Trả lời dùm alo2u vì chưa nhận được email xác nhận reg nick trong 4r
Copy from : http://www.dongnai-industry.gov.vn/dnluat/content.asp?code=5712
smalllove
31-05-2007, 00:10
- Tiền cotton được in ra như thế nào ? - Cơ bản nhất là tạo ra bảng kẽm - sau đó là quy trình in ấn - hok rõ nó như thế nào :-|
- Tiền cotton được in ra ở đâu ? - Chỉ có 1 nơi : Nhà máy in tiền Việt Nam - nó nằm ở đâu thì chấm hỏi chấm hỏi chấm hỏi ???
-------------
@ a Tưởng : "be confused" đâu ạ ! Hok biết nên im re dựa cột đợi nghe mừh !
@ dany_nguyen : vẫn đang đợi nghe giải đáp thắc mắc đây ạ !
"be confused" là bối rối.
Uh, anh cũng thích dựa cột mà nghe các bạn đấy!
Tiếp đi nhé!
CHÍNH PHỦ
---------
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số 81/1998/NĐ-CP
-------------------------
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 1998
NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Về in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại;
bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá
trong hệ thống ngân hàng
___
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997-QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH :
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại (gọi tắt là tiền); bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống ngân hàng.
Điều 2. Đối tượng điều chỉnh
Nghị định này điều chỉnh các đối tượng sau đây :
- Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) in, đúc và phát hành;
- Tiền mẫu, tiền lưu niệm;
- Giấy tờ có giá gồm : ngân phiếu thanh toán, thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật;
- Tài sản quý gồm : kim khí quý, đá quý, ngoại tệ và các loại tài sản quý khác.
Điều 3. Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan tổ chức thực hiện việc in, đúc và tiêu hủy tiền; bảo quản, vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá; hướng dẫn, kiểm tra việc bảo quản, vận chuyển tiền, tài sản quý, giấy tờ có giá và công tác ngân quỹ của các tổ chức tín dụng.
Chương II
IN, ĐÚC TIỀN
Điều 4. In, đúc thêm tiền đang lưu hành và in, đúc tiền mới chưa công bố lưu hành
1. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước căn cứ kế họach cung ứng tiền tăng thêm được Chính phủ phê duyệt, nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, nhu cầu tiền dự trữ phát hành và nhu cầu thay thế tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông hàng năm để quyết định cơ cấu, số lượng, giá trị tiền đang lưu hành cần in, đúc thêm và giao cho các nhà máy in, đúc tiền thực hiện theo hợp đồng.
2. Ngân hàng Nhà nước xây dựng dự án in, đúc các loại tiền mới chưa công bố lưu hành để bổ sung, thay thế tiền trong lưu thông trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kèm theo dự án phải có thiết kế mẫu về mệnh giá, kích thước, trọng lượng, hình vẽ, hoa văn và các đặc điểm khác của các loại tiền giấy, tiền kim loại mới này.
Điều 5. Thiết kế mẫu tiền
1. Việc thiết kế mẫu tiền do Ngân hàng Nhà nước thực hiện và bảo đảm các yêu cầu :
a) Về hình thức : có tính thẩm mỹ cao, dễ nhận biết, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam;
b) Về kỹ thuật : phải phù hợp với vật liệu, quy trình công nghệ chế bản và in, đúc tiền của các nhà máy; thuận tiện cho việc sử dụng và bảo quản tiền.
2. Ngân hàng Nhà nước tổ chức nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong thiết kế mẫu tiền, bảo đảm cho đồng tiền bền, đẹp và có khả năng chống giả cao; phù hợp với vật liệu, công nghệ chế bản và in, đúc tiền của các nhà máy.
Điều 6. Chế bản in, đúc tiền
Chế bản in, đúc (in, đúc thử và in, đúc chính thức) các loại tiền do các nhà máy in, đúc tiền thực hiện phải tinh xảo, thể hiện đầy đủ nội dung thiết kế mẫu và phù hợp với công nghệ in, đúc tiền của mỗi nhà máy trong từng thời kỳ.
Điều 7. Tổ chức và quản lý việc in, đúc tiền
1. Việc in, đúc tiền do các nhà máy thực hiện theo hợp đồng với Ngân hàng Nhà nước.
2. Các nhà máy in, đúc tiền có nhiệm vụ :
a) Chuẩn bị các loại thiết bị, vật tư, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ cho việc in, đúc tiền theo hợp đồng;
b) Bảo đảm chất lượng tiền in, đúc ổn định theo các thông số kỹ thuật của mỗi loại tiền đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt;
c) Chịu trách nhiệm về số lượng, chất lượng các loại tiền đã in, đúc. Tiền thành phẩm khi giao cho Ngân hàng Nhà nước phải được đóng gói thống nhất theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
d) Lập hồ sơ theo dõi lý lịch từng loại tiền in, đúc theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước;
e) Tổ chức hạch toán kịp thời, chính xác việc in, đúc tiền theo quy định của pháp luật về kế toán - thống kê;
g) Tổ chức bảo quản, theo dõi riêng các loại sản phẩm in, đúc hỏng, không đúng quy cách để tiêu hủy theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
3. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện in, đúc tiền hàng năm, đồng gửi Bộ Tài chính và Bộ Công an.
Điều 8. Ban hành các quy chế
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành các quy chế về :
1. Thiết kế mẫu; làm chế bản in, đúc; quy trình công nghệ in, đúc tiền; tiêu chuẩn kỹ thuật các loại tiền;
2. Bảo mật trong việc in, đúc tiền; khóa mã an toàn trên chế bản gốc tiền giấy, tiền kim loại;
3. Mua thiết bị, vật tư, nguyên liệu, phụ liệu phục vụ việc in, đúc tiền.
Điều 9. Kiểm tra, giám sát
Bộ Tài chính có trách nhiệm :
1. Kiểm tra chứng từ, sổ sách, việc hạch toán của Ngân hàng Nhà nước về số lượng và giá trị theo mệnh giá các loại tiền in, đúc hàng năm;
2. Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước xây dựng quy chế và trực tiếp giám sát quá trình in, đúc tiền tại các nhà máy.
Chương III
BẢO QUẢN TIỀN, TÀI SẢN QUÝ VÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 10. Trách nhiệm bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá
1. Tiền mới in, đúc chưa giao cho Ngân hàng Nhà nước do các nhà máy in, đúc tiền chịu trách nhiệm bảo quản tại kho của mình theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
2. Trong phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước, các loại tiền chưa công bố lưu hành, tiền đang lưu hành (kể cả tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông), tiền đã đình chỉ lưu hành, tiền mẫu, tiền lưu niệm, tài sản quý và giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm bảo quản.
3. Tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá thuộc tài sản của các tổ chức tín dụng do các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm bảo quản theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Điều 11. Xây dựng và quản lý kho tiền
1. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định tiêu chuẩn kỹ thuật kho tiền, chế độ quản lý kho tiền và dịch vụ bảo quản tài sản trong hệ thống ngân hàng.
2. Ngân hàng Nhà nước được xây dựng các kho tiền trung ương và các kho tiền đặt tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố để bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá do mình quản lý.
3. Các nhà máy in, đúc tiền; các tổ chức tín dụng được xây dựng hệ thống kho tiền để bảo quản tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá trong phạm vi quản lý của đơn vị mình.
Điều 12. Bảo vệ kho tiền
1. Bộ Công an có trách nhiệm bảo vệ các nhà máy in, đúc tiền; các kho tiền trung ương và các kho tiền đặt tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.
2. ủy ban nhân dân các cấp nơi có kho tiền thuộc hệ thống Ngân hàng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ an toàn kho tiền.
Chương IV
VẬN CHUYỂN TIỀN, TÀI SẢN QUÝ VÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 13. Phạm vi, trách nhiệm tổ chức vận chuyển
1. Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá do mình quản lý trong phạm vi :
a) Từ các nhà máy in, đúc tiền, sân bay, bến cảng, nhà ga về các kho tiền trung ương và ngược lại;
b) Giữa các kho tiền trung ương;
c) Giữa các kho tiền trung ương với các kho tiền chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố;
d) Giữa các kho tiền chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.
2. Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm tổ chức vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá thuộc tài sản do mình quản lý giữa các đơn vị trong cùng hệ thống và giữa tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước.
Điều 14. Phương tiện vận chuyển
Ngân hàng Nhà nước được thành lập các đội xe làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá. Các đội xe này được trang bị xe chuyên dùng cùng các phương tiện kỹ thuật cần thiết.
Điều 15. Nguyên tắc vận chuyển
1. Việc vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng phải bảo đảm các nguyên tắc :
a) Phải có lệnh điều chuyển của cấp có thẩm quyền;
b) Vận chuyển bằng xe chuyên dùng hoặc phương tiện vận chuyển chuyên dùng;
c) Bố trí đủ nhân lực áp tải, bảo vệ trong các chuyến vận chuyển;
d) Giữ bí mật hành trình vận chuyển.
2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tiêu chuẩn xe, phương tiện vận chuyển và phương tiện kỹ thuật chuyên dùng; quy trình vận chuyển tiền, tài sản quý, giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng.
Điều 16. Bảo vệ việc vận chuyển
1. Bộ Công an có trách nhiệm tổ chức lực lượng bảo vệ an toàn các chuyến vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước khi được yêu cầu phối hợp.
2. Nghiêm cấm các trạm kiểm soát, các đội tuần tra cơ động khám xét dọc đường đối với xe và các phương tiện vận chuyển chuyên dùng đang làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng; trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy phép ưu tiên cho các phương tiện làm nhiệm vụ vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước để đi trong giờ cao điểm, qua các cầu phà và vào các đường cấm.
4. ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng xử lý kịp thời những sự cố xảy ra trong các chuyến vận chuyển tiền, tài sản quý và giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng xảy ra trên địa bàn khi được thông báo.
Chương V
TIÊU HỦY TIỀN
Điều 17. Loại tiền tiêu hủy
Tiền được tiêu hủy bao gồm :
1. Các loại tiền giấy, tiền kim loại không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
2. Các loại tiền đã đình chỉ lưu hành.
Điều 18. Quản lý tiêu hủy tiền.
1.Hàng năm hoặc từng thời kỳ, căn cứ tồn kho các loại tiền nêu ở Điều 17, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định số lượng, giá trị của từng loại tiền phải tiêu huỷ.
2. Việc tiêu hủy tiền được tiến hành thường xuyên, thời gian tiêu hủy do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định và chỉ thực hiện tại các kho tiền trung ương của Ngân hàng Nhà nước.
3. Tiền tiêu hủy phải trở thành phế liệu và không thể phục hồi để sử dụng được dưới bất kỳ hình thức nào.
4. Ngân hàng Nhà nước phải hạch toán đầy đủ, chính xác tiền tiêu hủy; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả tiêu hủy tiền từng đợt và cả năm, đồng gửi Bộ Tài chính và Bộ Công an.
Điều 19. Hạch toán tiền bán phế liệu
Tiền thu từ bán phế liệu tiêu hủy tiền được hạch toán vào khoản thu nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước.
Điều 20. Tổ chức tiêu hủy tiền
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế tiêu hủy tiền; thành lập bộ máy chuyên trách để tổ chức tiêu hủy tiền.
Điều 21. Giám sát tiêu hủy tiền
1. Bộ Tài chính chủ trì, cùng với Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước xây dựng quy chế giám sát và cử cán bộ giám sát quá trình tiêu hủy tiền; xác nhận kết quả tiêu hủy tiền của Ngân hàng Nhà nước.
2. Bộ Tài chính kiểm tra chứng từ, sổ sách hạch toán của Ngân hàng Nhà nước về tiêu hủy tiền hàng năm.
Chương VI
CHI PHÍ IN, ĐÚC, BẢO QUẢN, VẬN CHUYỂN
VÀ TIÊU HỦY TIỀN
Điều 22. Chi phí thường xuyên
Chi phí thường xuyên hàng năm cho việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy các loại tiền được thực hiện và quản lý theo chế độ tài chính của Ngân hàng Nhà nước.
Điều 23. Chi phí in, đúc tiền mới
Chi phí liên quan đến việc in, đúc các loại tiền mới chưa công bố lưu hành để bổ sung, thay thế cơ cấu tiền trong lưu thông được hạch toán riêng theo dự án được Chính phủ phê duyệt. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý, kiểm tra theo chế độ bảo mật và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung và tính chất các khoản chi, đồng gửi Bộ Tài chính.
Điều 24. Kiểm tra chi tiêu
Bộ Tài chính kiểm tra việc thực hiện chi tiêu cho công tác in, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền của Ngân hàng Nhà nước.
Chương VII
TIỀN MẪU, TIỀN LƯU NIỆM
Điều 25. Tiền mẫu
1. Tiền mẫu là đồng tiền chính thức của Việt Nam, có thêm chữ ''tiền mẫu'' hoặc chữ ''Specimen''. Tiền mẫu được dùng làm chuẩn để đối chứng trong nghiệp vụ phát hành tiền và không có giá trị làm phương tiện thanh toán trong lưu thông.
2. Ngân hàng Nhà nước có thể bán tiền mẫu cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dùng làm vật đối chứng, sưu tập hoặc lưu niệm
Điều 26. Tiền lưu niệm
1. Tiền lưu niệm là đồng tiền tượng trưng không có giá trị làm phương tiện thanh toán, được phát hành cho mục đích sưu tập, lưu niệm hoặc mục đích khác.
2. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt mẫu thiết kế, quyết định chất liệu, mệnh giá và số lượng các loại tiền lưu niệm cần in, đúc.
3. Ngân hàng Nhà nước tự tổ chức sản xuất hoặc hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước sản xuất và tiêu thụ tiền lưu niệm.
Điều 27. Quản lý tiền mẫu, tiền lưu niệm
1.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế quản lý tiền mẫu, tiền lưu niệm.
2.Các khoản thu - chi về sản xuất, tiêu thụ tiền mẫu, tiền lưu niệm được hạch toán vào thu - chi nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước.
Chương VIII
KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT
Điều 28. Khen thưởng
Hàng năm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xem xét, khen thưởng hoặc trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện các quy định của Nghị định này.
Điều 29. Xử lý vi phạm
Các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Nghị định này, tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 30. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Những văn bản trước đây trái với Nghị định này đều hết hiệu lực.
Điều 31. Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
Điều 32. Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này ./.
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Nơi nhận :
- Thường vụ Bộ Chính trị,
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ,
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ,
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương,
- Văn phòng Quốc hội,
- Văn phòng Chủ tịch nước,
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng, Phan Văn Khải đã ký
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,
- Tòa án nhân dân tối cao,
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể,
- Công báo,
- VPCP : BTCN, các PCN, các Cục, Vụ,
- Lưu : KTTH (3b), VT.
-----------------------------
Trả lời dùm alo2u vì chưa nhận được email xác nhận reg nick trong 4r
Copy from : http://www.dongnai-industry.gov.vn/dnluat/content.asp?code=5712
Thanx smalllove.:byebye: ^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^^
:haha:Thông tin của alo2u cung cấp đã hướng các bạn đến những chi tiết quan trọng liên quan đến bí ẩn này rồi đó! :haha:
Nhưng đòi hỏi bạn phải chịu khó đọc một tí vì bài trích dẫn hơi bị dài! Và người trích dẫn có vẻ không thích "màu mè" lắm nên đành để bài trích dẫn của mình một tone màu thống nhất. Nhìn hơi bị "chóng mặt" tí! :baffle:
Anh danny_nguyen0412 có lẽ thất hứa với SmallLove rồi!
tieu_long_kom
06-06-2007, 22:52
chài, cái nì thi mà ko zui zì hết, thi cái j mà cùng lúc nhièu mem thi trực tuyến cùng thi thố chứ,
mọi ngưòi zào đay thi KIẾN THỨC TỔNG QUÁT và IQ nè :
http://2btop.net/ hay hơn trang abc.com.vn của ai là triệu fú nhiều
nhièu câu hỏi lắm, ko chỉ bao quanh 1 vài lĩnh vực, đb ít trùng lại câu hỏi cũ,
9h tối mỗi ngày thi trực tuyến, đkí trc 8h30 tối mỗi ngày, tớ thi zòi thấy hay lắm, tuy mạng hơi chậm tí, ngoài ra nếu ko thi trực tiếp có thể thi off , tức thi tự do, ko cùng thi nhiều ngưòi
http://2btop.net/ có j mọi ngưòi zô xem thử nhá
đúng là ẩn số đến giờ chẳng ai tìm ra được, đúng là ẩn số
@ tieu_lom_kom: web bác giớ thiệu rất hay, nhưng mổi cuộc thi đều khác nhau chủ yếu để mọi người học hỏi và vui vẻ với nhau, bác đừng nên nói vậy ở đây chẳng phải để hơn thua và lần sau bác hảy qua bõ giới thiệu web nha'. Dù sao cũng thank bác đã share !
Chắc mình phải bật mí quá Ken (*)! :haha: Để các bạn còn chuyển qua ẩn số khác! Hay là mình chuyển, để lại ẩn số này cho các bạn tự tìm ra mới gọi là "TÀI NĂNG CTO" Ken nhỉ! :haha:
(*) Ken có gợi ý là nên bật mí một tí về ẩn số để mọi người có thể tìm tiếp.
tieu_long_kom
07-06-2007, 20:34
Hệ thống in của Tài chính - Ngân hàng.
In và phát hành giấy bạc là huyết mạch của mỗi quốc gia, nó giúp con người trao đổi thuận tiện trong công việc, trong cuộc sống; khẳng định chủ quyền và uy tín lãnh đạo của chính quyền đối với quốc gia đó. Vì vậy, sau cách mạng, việc phát hành giấy bạc đối với một nhà nước mới được thành lập trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhưng công nghệ in giấy bạc lại cần có kỹ thuật cao, máy móc hiện đại mới đáp ứng được. Trước tình hình đất nước bị quân Tưởng chiếm đóng, những cơ sở in có kỹ thuật tốt như IDEO trở thành trụ sở của chúng nên việc in tiền gặp ít nhiều khó khăn. Trong khi điều đình để mua lại nhà in Tô Panh, chúng ta đã tranh thủ một số nhà in tư của người Việt để in những tờ giấy bạc đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà như: nhà in Quốc Hoa, Nguyên Ninh… Sau khi mua được nhà in Tô Panh ta đổi tên là Việt Nam Quốc gia ấn thư cục, cán bộ của nhà in đã bắt tay ngay vào công việc in giấy bạc, đáp ứng nhu cầu trao đổi của xã hội. Trong kháng chiến chống Pháp, ta cho sơ tán nhà máy in giấy bạc về các vùng Chi Nê, huyện Lạc Thuỷ, Hoà Bình và tiếp tục hoạt động. Ngoài việc in những tờ gấy bạc có mệnh giá 5 đồng, 10 đồng do hoạ sĩ Mai Văn Hiến và Nguyễn Đỗ Cung thực hiện, ở Liên khu V, chúng ta còn cho thành lập nhà in và phát hành tín phiếu. Ngoài ra cùng lúc dó còn có Nhà máy in bạc tài chính – cơ quan ấn loát Bộ Tài chính;
Bên cạnh hệ thống in giấy bạc ở ngoài Bắc, chúng ta cũng tổ chức hệ thống in giấy bạc ở trong Nam, nhằm giảm bớt khó khăn khi vận chuyển đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ, góp phần vào công cuộc thống nhất tiền tệ trong cả nước. Sau khi thống nhất đất nước (và đến nay) ta đã có Nhà in Ngân hàng I ở Hà Nội, Nhà in Ngân hàng II ở Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện chức năng in các ấn phẩm giấy bạc, góp phần thúc đẩy lưu thông kinh tế, xây dựng đất nước.
Nguồn : http://www.vanhoanghethuat.org.vn/2002.09/dinhductien.htm
-------------
Cái đó còn thiếu, ngoài nhà in NH I và II còn nhà máy in tiền quốc qia nằm ở Hà Nội
-------------
cái này mới hot :
Điạ chỉ Nhà máy IN NGÂN HÀNG 1 :
Nhà in Ngân hàng I, 10 đường Chùa Bộc - HN
phone : 04.8522125
Nhà in Ngân hàng II (TP-HCM) - 442 Trần Hưng Đạo, Quận 5, TP. HCM , Fone: 84-08-8352846 ...Ngày thành lập: 25/05/1976.
NHÀ MÁY IN TIỀN QG- NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN
Ðịa chỉ: 30 Dịch Vọng Cầu Giấy , Hà Nội
và tớ còn bít dc địa chỉ nhà và số fone của 3 NHÂN VIÊN KÌ CỰU CỦA NHÀ MÁY IN NGÂN HÀNG I NỮA :choler::byebye::byebye::ah:
Nguồn : http://danhba.vdc.com.vn/danhba.aspx?jumpto=result&psid=In%20C%C3%A1c%20Lo%E1%BA%A1i&co=&prv=0&spdvid=2170&cspdvid=&page=21
---------
vài nét về nhà máy Chi Nê :
Đồn điền Chi Nê được ông Đỗ Đình Thiện (một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp) mua từ các nhà tư sản Pháp. Trong những năm 1943-1945, Đồn điền Chi Nê là địa điểm liên lạc, cung cấp tài chính và là nơi trú ẩn an toàn cho những cán bộ của Đảng. Tháng 11-1946, Nhà máy in tiền được di chuyển từ Hà Nội về Chi Nê. Đây là Nhà máy in tiền đầu tiên của chính quyền cách mạng với các tiền mệnh giá 5 đồng, 2 đồng, 1 đồng, 2 hào, 100 đồng...
----------------------
Như vậy hiện giờ, cái tờ Vi en đi mà chúng ta ngày ngày vẫn xài dc in ở :
- Nhà máy in tiền Quốc gia (Hà Nội). Ðịa chỉ: 30 Dịch Vọng Cầu Giấy , Hà Nội
- Nhà in Ngân Hàng I (Hà Nội)- 10 đường Chùa Bộc - HN, phone : 04.8522125
- Nhà in Ngân hàng II (TP-HCM) - 442 Trần Hưng Đạo, Quận 5, TP. HCM, Fone: 84-08-8352846
:byebye::haha::hungry::choler::bad_smelly::hell_bo y:
tieu_long_kom
07-06-2007, 20:40
Ngoài ra còn 1 số xí nghiệp in TÀI CHÍNH nữa, ( ko in tiền, chắc in mấy hóa đơn, trái fiếu.... quá ^_^) như
Công ty in Tài chính Đà Nẵng
14 Trần Phú, TP Đà Nẵng
Công ty in Tài chính
Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
Công ty in Tài chính (Chi nhánh tại TP. HCM )
22 Tôn Thất Thuyết, Phường 16, Quận 4, TP. HCM
Xí nghiệp in Tài chính - Sở Vật giá TP. HCM
717 Trần Hưng Đạo, Q5, TP. HCM
Nguồn : http://www.hanam.gov.vn/index.asp?newsID=417&language=tiengviet
:haha: Quá tuyệt vời! Xin mời các bạn xem lại bài của tieu_long_kom một lần nữa nhé! :haha:
và tớ còn bít dc địa chỉ nhà và số fone của 3 NHÂN VIÊN KÌ CỰU CỦA NHÀ MÁY IN NGÂN HÀNG I NỮA
Còn cái này thì "không khoái rồi đó nghen!" Các bạn trong CTO mình cũng biết vậy! Đây là thủ thuật tìm số điện thoại trên danh bạ thôi mà!
Dù sao cũng rất biểu dương tài năng của tieu_long_kom! Một ẩn số làm cả nhà phải chạy khắp nơi trên Net mà nó vẫn chưa chịu xuất hiện! Cả nhà CTO rất hân hạnh được biết bạn! Bạn tiếp tục nhé!
Mình tiếp tục ẩn số rất thú vị cho các bạn thích khám phá và tò mò đây!
Trộn lẫn
Carbon (C),
Lưu huỳnh (S)
và Kali Nitrat (KNO3)
sẽ làm nên vật gì?
tieu_long_kom
09-06-2007, 09:38
Trộn lẫn Carbon (C), Lưu huỳnh (S) và Kali Nitrat (KNO3) sẽ tạo thành thuốc nổ đen :
THUỐC ĐEN:
thuốc nổ gồm hỗn hợp kali nitrat, lưu huỳnh và than, nghiền mịn, trộn đều. Dạng bột, hạt hay đóng bánh, vv. TĐ cháy chỉ gây hiện tượng nổ nếu khối lớn, hay trong vỏ kín hoặc có lỗ thoát nhỏ khí ra không kịp. TĐ là thuốc phóng yếu, có cặn, hại nòng súng, có khói làm lộ chỗ để súng. TĐ là thuốc phá yếu, không chịu nước, nhậy va đập, ma sát, ngọn lửa, nhiệt độ cao. TĐ là thuốc phóng và phá độc nhất đến giữa thế kỉ 19. Hiện nay chỉ dùng để khai thác đá mềm lấy nguyên tảng lớn; làm mồi cháy, dây dẫn lửa, ngòi cháy chậm; trong dân dụng làm các loại pháo nổ, pháo hiệu, pháo màu, pháo bông. Ở Việt Nam, dùng TĐ làm thuốc phóng (thuốc súng) muộn nhất từ đời Trần. Các dân tộc miền núi từ lâu đời dùng kali nitrat (diêm tiêu) chế từ đất hang dơi làm thuốc súng kíp. Trong Kháng chiến chống Pháp, TĐ được sản xuất cho vũ khí thô sơ và bộ phận dẫn lửa. TĐ clorat khác TĐ thường (x. Clorat).
Phần trăm hỗn hợp : Thuốc nổ đen là một hỗn hợp của kali nitrat, than gỗ, lưu huỳnh với tỷ lệ theo khối lượng (75% kali nitrat, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh). Tỷ lệ trộn đã thay đổi sau nhiều thế kỷ sử dụng, và cũng có thể thay đổi lại tùy vào mục đích sử dụng.
Nguồn : http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=14E7aWQ9MTgmZ3JvdXBpZD0ma2luZD1 zdGFydCZrZXl3b3JkPXQ=&page=25
http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%91c_s%C3%BAng
--------------
Thuốc đen thuộc 1 trong những loại THUỐC NỔ PHÁ VÔ CƠ :
thuốc nổ dùng phá vỡ môi trường xung quanh (vỏ đạn, mìn, đất đá, kim loại, vv.). TNP phải đằm, không dễ nổ (trừ điều kiện riêng); muốn nổ cần sóng xung kích để kích thích ban đầu đủ mạnh (thường của kíp nổ). Có thể cháy nhưng không chuyển thành nổ. TNP chủ yếu là các hợp chất hữu cơ có nhiều nhóm NO2 (gọi là hợp chất nitro) và các hỗn hợp trên cơ sở chúng. Các hợp chất ấy là hợp chất nitro của các hiđrocacbon và các dẫn xuất của chúng (quan trọng là dãy thơm) như TNT (x. TNT), melinit (axit picric, dùng nhiều ở đầu thế kỉ 20, chỉ dưới dạng muối amoni); các hợp chất nitro của các amin (nitramin) như hexogen (RDX) mạnh, dùng cho đạn chống tăng, cao xạ, ngư lôi, octogen (HMX) như hexogen, lại chịu nhiệt độ cao, dùng cho giếng khoan rất sâu, cho đạn súng bắn cực nhanh, tetryl dùng cho kíp nổ, dây nổ; các este nitric của các ancol (nitrat rượu) như pentrit (ten) chủ yếu cho kíp nổ, dây nổ, nitroglixerin, nitroglicol, nitroxenlulozơ (ba chất này chỉ dùng ở dạng hỗn hợp). Ngoài ra, có một số TNP vô cơ như thuốc đen, thuốc nổ amoni nitrat, clorat (x. Thuốc đen; Thuốc nổ amoni nitrat; Clorat).
Nguồn : http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=5709aWQ9Njc3MiZncm91cGlkPSZraW5 kPSZrZXl3b3JkPSUzY3NwYW4lMjBzdHlsZSUzZCUyMmZvbnQtc 2l6ZSUzYSUyMDEwcHQlM2IlMjBsaW5lLWhlaWdodCUzYSUyMDE 1MCUyNSUzYiUyMGZvbnQtZmFtaWx5JTNhJTIwQXJpYWwlM2IlM jIlM2V0aHUlZTElYmIlOTFjJTIwbiVlMSViYiU5NSUzYyUyZnN wYW4lM2U=&page=1
tieu_long_kom
09-06-2007, 09:54
Vài nét về THUỐC NỔ FÁ Ở VN SỬ DỤNG :
Thuốc nổ phá GỒM :
Tô lít
Còn gọi là TNT (trinitrotoluen) công thức hóa học CH3C6H2(NO2)3.
Thuốc nổ ở dạng hóa hợp, tinh thể cứng màu vàng nhạt, tiếp xúc với ánh sáng ngả màu nâu, vị đắng, khó tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ (cồn, ête, benzen, aceton), khói độc.
* Tính năng: an toàn khi va đập, cọ sát, đạn súng trường bắn xuyên qua không nổ, tốc độ nổ 7.000 m/s. Đốt khó cháy, ở nhiệt độ 81°C thì chảy, 310°C thì cháy, khi cháy có ngọn lửa đỏ, khói đen, mùi nhựa thông và không nổ, nếu cháy ở nơi kín có thể chuýenng nổ. Rất ít hút ẩm, thuốc đúc hầu như không hút ẩm, thuốc đúc và ép có thể dùng dưới nước, thuốc bột dễ ngấm nước, khi bị ẩm dù phơi khô vẫn không nổ. Không tác dụng với kim loại. Gây nổ bằng kíp số 8, thuốc đúc khó gây nổ hơn, muốn gây nổ phải có thuốc nổ mồi bằng TNT ép hoặc thuốc nổ mạnh.
* Công dụng: dùng rộng rãi trong phá các vật thể (đất, đá, gỗ...) làm thuốc nổ chính trong bom, mìn, đạn pháo,...Trộn với thuốc nổ khác làm dây nổ.
Thuốc nổ dẻo C4
Thuốc nổ dẻo C4 là hỗn hợp có thành phần 85% hexogen, 15% xăng crep, có dạng dẻo dễ nhào nặn.
* Tính năng: va đập cọ sát an toàn, đốt khó cháy. Không hút ẩm, không tan trong nước, không tác dụng với kim loại. Gây nổ bằng kíp số 8.
* Công dụng: uy lực nổ lớn hơn TNT nên thường làm lượng nổ phuc, nhồi vào đạn lõm. Với tính dẻo dễ nặn theo mọi hình thù nên thường dùng trong công trình công binh, sử dụng phá hoại công trình.
[sửa] Thuốc nổ yếu
Loại thuốc đen
Là loại thuốc hỗn hợp dạng bột vụn màu đen hay xanh thẫm, dạng viên nhỏ đường kính 5-10 mm, khói độc, thành phần của thuốc nổ gồm 75% nitrat kali, 15% than gỗ, 10% lưu huỳnh.
* Tính năng: rất dễ bắt lửa, chỉ cần tàn lửa cũng làm thuốc bốc cháy và nổ. Rất dễ hút ẩm, bị ẩm nhiều không sử dụng được.
* Công dụng: làm thuốc dẫn lửa trong dây cháy chậm, làm thuốc phóng trong phóng đá, phóng mìn.
Sử dụng
* Dùng để nhồi vào hạt lửa, bộ lửa đạn pháo, kíp nổ, đạn hỏa thuật, liều phóng các loại đạn dược... hoặc dùng trong công nghiệp.
Chế tạo
Thuốc nổ đen có thể được chế tạo thủ công bằng cách trộn theo tỷ lệ trọng lượng 75%KNO3, 15%C, 10%S. Cacbon có thể được thu bằng cách đốt gỗ (như thân cây xoan) trong tình trạng hiếm khí rồi lọc qua lưới để được bột mịn. Lưu huỳnh và KNO3 cũng cần đem phơi khô rồi lọc qua lưới để được bột mịn.
Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%91c_n%E1%BB%95
tieu_long_kom
09-06-2007, 10:04
Tới em đóng góp 1 ẩn số nhé, có dc ko ạ:
Nhân dịp bữa hổm ẩn số là về tiền, về nhà in tiền, về ngân hàng...., nay kom em xin góp 1 ẩn số tiếp tục vè ngân hàng nhá : :haha:
HIỆN NAY NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN TA NGƯÒI ĐỨNG ĐẦU LÀ THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG.
VẬY TẠI VÌ SAO NGÂN HÀNG LẠI CÓ CHỨC VỤ THỐNG ĐỐC MÀ LẠI KO FẢI LÀ GIÁM ĐỐC, TỔNG GIÁM ĐỐC, HAY CHỦ TỊCH???
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VN THÀNH LẬP NĂM NÀO ? CÓ CÁC CHI NHÁNH FỤ NÀO? VÀ TRẢI QUA BAO NHIÊU ĐỜI THỐNG ĐỐC? KỂ TÊN? :byebye::byebye::byebye:
tieu_long_kom
10-06-2007, 12:54
chài anh nhtuong sao ko thay đổi fần chư kí zạ?
bộ em trả lời chưa đúng hả
mà cũng chả ai tham za j hết nữa zậy, hix
smalllove
11-06-2007, 01:12
chài anh nhtuong sao ko thay đổi fần chư kí zạ?
bộ em trả lời chưa đúng hả
mà cũng chả ai tham za j hết nữa zậy, hix
Trả lời thắc mắc thay anh Tưởng - ^^, (thông tin được chia sẻ từ anh Tưởng, do bận việc nên mình post dùm)
Bí ẩn pháo hoa (thấy nhiều nhưng chưa biết rõ) :D
WEDNESDAY, 21. FEBRUARY 2007, 14:58:48
FIREWORK
Tết và các lễ hội hầu như không thể thiếu pháo hoa, song ít người biết được công thức làm ra nó. Ngoài ra, không phải bạn muốn gì là được nấy, chẳng hạn bạn không thể ép pháo hoa khi nổ ra hình thù mong muốn.
Tết và các lễ hội hầu như không thể thiếu pháo hoa, song ít người biết được công thức làm ra nó. Ngoài ra, không phải bạn muốn gì là được nấy, chẳng hạn bạn không thể ép pháo hoa khi nổ ra hình thù mong muốn.
Đầu tiên là thuốc nổ màu đen (thuốc súng), cái cần thiết nhất để làm đủ loại pháo hoa. Thuốc nổ là một hỗn hợp than củi, lưu huỳnh và kali nitrat. Khi tiếp xúc với một tia lửa, ba thứ đó hợp thành một chất đốt rất mạnh. Rõ hơn là lưu huỳnh và than củi vét hết ôxy của kali nitrat, nguồn cung cấp lớn. Như trong mọi sự đốt cháy, nhiệt độ sẽ tăng lên, càng cao hơn trong không gian hạn hẹp của trái pháo. Càng kín, nhiệt độ càng tăng.
Thế là sự đốt cháy kích hoạt "phụ gia" của trái bom, nói cách khác là chất tạo ra màu sắc và hiệu quả mong muốn. Được nhồi đầy năng lượng do nhiệt độ, các electron của phụ gia tuôn ra từng bó ánh sáng. Ánh sáng màu gì? Trong nhiều thế kỷ, các nhà chế tạo pháo hoa chỉ tạo ra những tia chớp vàng và trắng. Về sau, người ta đã biết cách làm cho phong phú hơn với màu đỏ và xanh lá cây (hai màu dễ thực hiện nhất) và cả màu xanh da trời, tím, hồng và da cam.
Tất nhiên, công thức chính xác của phụ gia là một điều tối mật. Đó là bí quyết của sự cạnh tranh. Tuy nhiên, người ta thường dùng nhất là những muối kim loại dựa trên cơ sở Baryum, đồng, natri và strontium. Clorua đồng tạo ra màu xanh da trời rất đẹp, clorua strontium cho ra màu đỏ rực rỡ. Kết hợp khéo léo hai chất đó, ta sẽ có một màu tím tuyệt vời.
Một loại pháo hoa hiện đại là hầu như không có giới hạn. Tuy nhiên, các nhà hóa học cũng không thể đáp ứng hết mọi đòi hỏi. Hãy yêu cầu họ cho ta một màu xanh rất sáng, họ sẽ nhăn mặt lại. Để tăng cường độ sáng, phải đốt nóng hơn nữa. Thế mà, trên 1.200 độ C, chất clorua đồng sẽ bị rã ra và không phát ra màu xanh nữa.
Nếu các bạn hỏi có thể làm những pháo hoa khi nổ sẽ tạo ra hình thù hay chữ này chữ nọ, họ sẽ trả lời: Chà! Thật khó.
(copy from http://my.opera.com/kobebryant_08/blog/2007/02/21/bi-an-phao-hoa)
Ban Thống đốc (đứng đầu là Thống đốc) và Ban điều hành (đứng đầu là Tổng giám đốc) là khác nhau.
http://www.sbv.gov.vn/CdeHTQT/quanhevnimf.asp
Các vị lãnh đạo cao nhất của NHNN Việt Nam qua các thời kỳ:
http://www.sbv.gov.vn/home/gtlanhdao.asp
Có một câu chuyện rất rất thú vị
về 1 công ty lừng danh ở Việt Nam
và con số 13!
Bạn hãy tìm xem đó là công ty nào nhé! :haha:
theboylove
11-06-2007, 15:44
ĐÓ LÀ CÔNG TY FPT
Trong dịp khai trương chi nhánh FPT tại Đà Nẵng 13.8.2004, 1 phóng viên địa phương đã phát biểu “ tôi biết có nhiều người vô thần ko biết nhất thiết phải chọn ngày tốt để khởi nghiệp, nhưng tôi chưa biết 1 công ty nào ( ngoài FPT) lại cố tình chọn ngày xấu nhất để khai trương 1 chi nhánh”. Và khi được thông báo , ko chỉ có chi nhánh FPT Đà Nẵng mà cả tập đoàn FPT , từ FPT Hà Nội đến FPT HCM , từ công ty mẹ đến các loại công ty con cháu…đều khai sinh vào ngày 13 của 1 tháng nào đó trong năm, thì anh bạn phóng viên này chỉ còn biết lắc đầu mà thốt lên “ bó tay, ko sao hiểu được!”.
Phải chăng người FPT ko biết Chúa bị đóng đinh vào ngày 13 thứ 6? Phải chăng người FPT quên chuyện tông đồ phản bội Chúa là tông đồ thứ 13? Chắc chắn là ko. Người FPT đọc nhiều nhớ lâu. Họ ko chỉ biết Chúa đóng đinh vào thứ 6 ngày 13 mà còn có thể nhớ chính xác Chúa bị đóng bằng bao nhiêu chiếc đinh. Họ ko chỉ nhớ tông đồ thứ 13 phản bội, mà còn có thể chỉ chính xác ai là kẻ có mặt trong bức tranh “ 13 tông đồ của Chúa Giê-su” sau này sẽ bán Chúa. Tất nhiên, họ cũng biết, tàu vũ trụ Apollo thứ 13 đã gặp tai nạn khủng khiếp…Họ biết gần như cả nhân loại đều ko thích số 13, đến mức nhiều khách sạn quốc tế ko thích xây tầng 13, nhiều doanh nghiệp VN ko thích trả lương tháng 13.
Vậy cái gì làm cho người FPT gắn chết với số 13??
Chỉ có 1 cách giải thích duy nhất là theo Tử vi. Số mệnh 1 con người, theo Tử vi, được định đoạt bởi ngày anh ta sinh ra. Số mệnh của FPT cũng thế, nó ra đời ngày 13.9.1988 và vì thế cuộc đời của nó đã gắn chết với số 13.
Người FPT vốn lạc quan , nên họ chẳng bận tâm vì đã sinh ra vào 1 ngày xấu. Họ tự bảo nhau “ Vạn sự khởi đầu nan, chúng ta hãy bắt đầu bằng 1 ngày khó khăn nhất để có sau đó những ngày ít khó khăn hơn”. Họ cũng ko trông chờ may mắn từ trên trời rơi xuống, vậy thì cần gì phải chọn ngày tốt để khởi hành. Lâu rồi họ đúc kết thành 1 triết lý giản dị “ Nếu muốn tương lai ngày một tươi sáng hơn, hãy bắt đầu bằng 1 ngày tối tăm nhất”. Và thế là ngày 13 của các tháng trong năm đã trở thành ngày sinh của tất cả các bộ phận lớn nhỏ trong FPT.
Rồi ko biết từ khi nào, đối với ngừơi FPT số 13 đã trở thành huyền thoại. Ko ai nhớ chính xác khi mới thành lập FPT có bao nhiêu cán bộ,nhưng mọi người đều nhớ FPT có 13 sáng lập viên. Số điện thoại nội bộ đẹp nhất 1313 dành riêng cho anh Trương Gia Bình. Không chỉ số nội bộ, số điện thoại di động của anh Bình cũng là 1313 ( 0903401313). Nghe nói, khi FPT đề nghị Mobile Phone ưu tiên cấp cho số dt này cho Tổng Giám Đốc FPT ,thì đề nghị được chấp nhận ngay, vì đối với họ những số loại này nhiều như cát…
Cũng may thiên hạ chưa biết cát cũng có thể là vàng. Số 13 ko xấu và cũng chẳng đẹp. Nó chỉ là khởi đầu của những con người dũng cảm, dám chấp nhận mọi khó khăn, vươn lên bằng chính sức lực của bản thân mình.
http://my.opera.com/xikechua/blog/fpt-bi-an-cua-con-so-13
Wow, lâu quá không gặp theboylove!
Exactly, your answer!! Congratulations! :hungry:
Tiếp tục nhé! :haha:
Tài sản của
người giàu nhất Việt Nam
là bao nhiêu?
theboylove
14-06-2007, 10:12
Theo các tài liệu công bố chính thức, trên sàn chứng khoán Việt Nam, số triệu phú đôla đã ngót nghét 170. Riêng 100 nhân vật giàu nhất, mỗi người đều có tài sản chứng khoán vượt 2 triệu USD, trong đó 2 người đạt tiêu chuẩn hội viên "câu lạc bộ" 100 triệu USD.
Danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam trên thị trường chứng khoán được VnExpress xây dựng trên cơ sở tham khảo các bản cáo bạch, báo cáo tài chính do chính các công ty niêm yết công bố, tính đến cuối năm 2006.
Tài sản của các nhân vật trong danh sách bao gồm tổng giá trị cổ phiếu sở hữu cá nhân trong các công ty niêm yết, tính theo giá đóng cửa ngày 29/12/2006, ngày giao dịch cuối cùng của năm 2006. Phần tài sản này chưa bao gồm bất động sản, tài sản cố định và số cổ phần mà các doanh nhân này nắm giữ trong những công ty chưa niêm yết.
Tính đến ngày 29/12/2006, toàn thị trường chứng khoán chính thức Việt Nam có 193 cổ phiếu niêm yết, với quy mô vốn hoá lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương đương 13,8 tỷ USD.
Trong cáo bạch của gần 150 công ty, có tên khoảng 650 cá nhân sở hữu cổ phiếu, bao gồm các cổ đông sáng lập, những người nằm trong hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban tổng giám đốc, và bà con ruột thịt. Tổng giá trị tài sản của họ, tính theo giá cổ phiếu cuối ngày 29/12/2006, đạt trên 37,2 nghìn tỷ đồng, tương đương hơn 4% GDP của Việt Nam.
Danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam trên thị trường chứng khoán do VnExpress xây dựng được tính toán trong số hơn 650 cá nhân kể trên. Họ sở hữu gần 34 nghìn tỷ đồng cổ phiếu đang niêm yết, chủ yếu thuộc các lĩnh vực bất động sản, tài chính ngân hàng, năng lượng, kho vận, công nghệ, viễn thông... 5 người đứng đầu danh sách đều có số tài sản chứng khoán trên 1 nghìn tỷ đồng.
Trong 100 người giàu nhất, tương quan giữa nam và nữ khá cân bằng: 42 nữ, 58 nam. Tuy nhiên, số tài sản chứng khoán mà các nữ "tỷ phú" đang sở hữu chưa bằng một nửa so với nam giới, chỉ đạt gần 9,8 nghìn tỷ đồng.
http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F294C/01.jpg
Trong tổng số gần 650 người sở hữu cổ phiếu có tên trong các cáo bạch: 27 người sở hữu cổ phiếu FPT, với tổng tài sản hơn 12,2 nghìn tỷ đồng
49 người giữ cổ phiếu ACB, đạt 4,7 nghìn tỷ đồng
8 người nắm cổ phiếu MPC, đạt 3,9 nghìn tỷ đồng
35 người giữ cổ phiếu STB, đạt 3,2 nghìn tỷ đồng
16 người giữ cổ phiếu ITA, đạt 2,6 nghìn tỷ đồng
13 người giữ cổ phiếu SSI, đạt 1,94 nghìn tỷ đồng
9 người nắm cổ phiếu KDC và NKD đạt gần 1,9 nghìn tỷ đồng
Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT lên sàn ngày 13/12/2006. Chỉ trong vòng nửa tháng, giá cổ phiếu FPT đã tăng 46 lần so với mệnh giá, giúp nâng giá trị của công ty trên thị trường lên gần 28 nghìn tỷ đồng, tương đương 1,75 tỷ đôla. Tài sản của đội ngũ lãnh đạo trong FPT, cũng nhờ vậy, mà tăng nhanh chóng. Tổng cộng có 17 người FPT nằm trong danh sách Top 100 người giàu trên sàn chứng khoán Việt Nam, với tổng tài sản hơn 12 nghìn tỷ đồng.
Đứng đầu FPT, và cũng là người đứng đầu danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam trên thị trường chứng khoán, ông Trương Gia Bình, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, hiện có 5,12 triệu cổ phần. Tính theo giá khớp lệnh ngày 29/12/2006 (460.000 đồng), ông Bình đang nắm trong tay tài sản chứng khoán gần 2,4 nghìn tỷ đồng, tương đương 150 triệu USD.
Hai cấp phó của ông Bình nối tiếp đứng vị trí thứ nhì và thứ ba trong bảng xếp hạng. Người giàu thứ hai trong FPT là Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Lê Quang Tiến cũng được xếp vào câu lạc bộ 100 triệu USD, khi sở hữu 3,71 triệu cổ phiếu, trị giá 1,7 nghìn tỷ đồng. Tiếp đó là Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Bùi Quang Ngọc, với số tài sản chứng khoán gần 1,2 nghìn tỷ đồng. Các thành viên Hội đồng Quản trị đều sở hữu trên 500 tỷ đồng cổ phiếu FPT.
Đứng thứ 4 và thứ 5 trong danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán là hai đại diện của ngành chế biến thuỷ sản. Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Thuỷ sản Minh Phú Lê Văn Quang năm nay mới 49 tuổi, nhưng đang nắm giữ hơn 14,5 triệu cổ phiếu MPC, đạt giá trị gần 1,145 nghìn tỷ đồng, tương đương 71,6 triệu USD. Đáng chú ý, kiều nữ của ông Quang, cô Lê Thị Dịu Minh, sinh năm 1986, hiện nắm giữ tới 6 triệu cổ phiếu MPC, tương đương 474 tỷ đồng. Dịu Minh cũng là thành viên HĐQT của Minh Phú.
Cấp phó của ông Quang, bà Chu Thị Bình, cùng nắm giữ số cổ phiếu tương đương với "sếp" và là người phụ nữ giàu nhất trên sàn chứng khoán hiện nay.
Nhân vật nữ giàu thứ hai trong danh sách là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE) Nguyễn Thị Mai Thanh. Bà Thanh đang có trong tay gần 800.000 cổ phiếu REE, tương đương 106 tỷ đồng. Ngoài ra, bà còn sở hữu 10,9 triệu cổ phần của Ngân hàng Sài gòn Thương tín, đạt giá trị 781,34 tỷ đồng. Tính chung số tài sản của bà Thanh ở hai doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn lên đến hơn 887 tỷ đồng.
Chồng bà Thanh, ông Nguyễn Ngọc Hải, dù không trực tiếp tham gia điều hành hai doanh nghiệp này, song cũng sở hữu khoảng 1,22 triệu cổ phiếu REE và 3,17 triệu cổ phiếu STB, với tổng giá trị gần 392 tỷ đồng. Ông Hải là người giàu thứ 34 trong danh sách 100 tỷ phú chứng khoán giàu nhất Việt Nam.
http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F294C/kinhdo.jpg
Khá nhiều trường hợp những người ruột thịt trong một gia đình cùng nắm các vị trí trọng yếu của công ty. Anh em ông Trần Kim Thành và Trần Lệ Nguyên của Công ty cổ phần Kinh Đô là một ví dụ. Ông Trần Kim Thành là Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Kinh Đô, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Thực phẩm Kinh Đô Sài Gòn... Còn ông Trần Lệ Nguyên giữ vai trò Phó chủ tịch thường trực HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô.
Công ty mẹ Kinh Đô và công ty con Kinh Đô miền Bắc đều đang niêm yết trên sàn TP HCM. Tính chung, ông Thành đang sở hữu tới gần 2,4 triệu cổ phiếu NKD cùng 3,7 triệu cổ phiếu KDC, với tổng giá trị hơn 836 tỷ đồng, lớn thứ 10 trong danh sách.
Cáo bạch của Kinh Đô miền Bắc không nêu rõ số cổ phần NKD mà ông Trần Lệ Nguyên đang nắm giữ. Nhưng nếu tính riêng số cổ phần KDC, ông Nguyên cũng có trong tay 525,4 tỷ đồng, giàu thứ 24 trong danh sách.
Cặp ruột thịt thứ hai là chị em bà Đặng Thị Hoàng Yến và ông Đặng Thành Tâm ở Công ty cổ phần Khu công nghiệp Tân Tạo. Bà Yến là Chủ tịch HĐQT, còn em trai Đặng Thành Tâm giữ chức Tổng giám đốc. Mỗi người đều nắm giữ 4,2 triệu cổ phần ITA, đạt giá trị 371,7 tỷ đồng, đứng thứ 35 và 36 trong danh sách.
Tuy nhiên, tài sản của hai chị em còn thua xa những người bà con ruột thịt của họ. Con gái của bà Đặng Thị Hoàng Yến, cô Nguyễn Phương Anh, đang sở hữu 8,4 triệu cổ phần ITA. Nhờ vậy, cô trở thành tỷ phú giàu thứ 12 trong danh sách, trên mẹ và cậu ruột 23 hạng. Phu nhân ông Đặng Thành Tâm, bà Nguyễn Thị Kim Thanh, đứng tên sở hữu hơn 5,2 triệu cổ phiếu ITA, đạt giá trị hơn 460 tỷ đồng, đứng thứ 30 trong danh sách. Thân mẫu của hai doanh nhân Đặng Thành Tâm và Đặng Thị Hoàng Yến, bà Hoàng Thị Kim Tuyến, sở hữu tới 4,71 triệu cổ phiếu.
Duy nhất một người quốc tịch nước ngoài có mặt trong danh sách, đó là ông Pang Tee Chiang - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Quốc tế Interfood. Với hơn 5,5 triệu cổ phiếu IFS, ông Chiang đang có trong tay gần 239 tỷ đồng, đứng thứ 43 trong danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán
20 người đứng đầu danh sách:
Thứ hạng Tên Doanh nghiệp niêm yết Mã CK Tài sản (*)
1 Trương Gia Bình - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 2.354
2 Lê Quang Tiến - Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 1.706
3 Bùi Quang Ngọc - Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 1.193
4 Lê Văn Quang - Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thuỷ sản Minh Phú MPC 1.146
5 Chu Thị Bình - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Thuỷ sản Minh Phú MPC 1.146
6 Hoàng Minh Châu - Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 937,2
7 Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán Sài Gòn SSI - Uỷ viên HĐQT Công ty Vĩnh Sơn Sông Hinh - Uỷ viên HĐQT Công ty cổ phần xuyên Thái Bình Dương (**) Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn
Công ty cổ phần thuỷ điện Vĩnh Sơn Sông Hinh
Công ty cổ phần xuyên Thái Bình Dương SSI PAN VSH 909,6
8 Đỗ Cao Bảo - Thành viên HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 891,6
9 Nguyễn Thị Mai Thanh - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc REE. Thành viên HĐQT STB (**) Công ty cổ phần Cơ điện lạnh
Ngân hàng cổ phần Sài Gòn Thương Tín REE STB 887,4
10 Trần Kim Thành - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc điều hành KDC. Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc điều hành NKD (**) Công ty cổ phần Kinh Đô
Công ty cổ phần Kinh Đô miền Bắc KDC NKD 836,2
11 Nguyễn Xuân Sơn - Thành viên HĐQT Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ dầu khí PVD 798,5
12 Nguyễn Phương Anh - con Chủ tịch HĐQT Đặng Thị Hoàng Yến Công ty Cổ phần Khu Công nghiệp Tân Tạo ITA 743,4
13 Đang cập nhật dữ liệu.
14 Nguyễn Hồng Nam - Ủy viên HĐQT kiêm Phó Giám đốc SSI - em Nguyễn Duy Hưng - thành viên HĐQT Công ty Khoan và dịch vụ Dầu khí PVD (**) Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn
Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ dầu khí SSI PVD 703,6
15 Đặng Ngọc Lan - vợ ông Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng cổ phần Á Châu ACB 677,7
16 Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng cổ phần Á Châu ACB 619
17 Phan Ngô Tống Hưng - Phó chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 589,1
18 Nguyễn Thành Nam - Thành viên HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 588,8
19 Trương Thanh Thanh - Phó chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 576,8
20 Trương Đình Anh - Thành viên HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT FPT 568,4
> Danh Sách Đầy Đủ (http://vnexpress.net/customize/chung-khoan/top100/)
Chú thích:
- Nguồn dữ liệu: Bản cáo bạch của các công ty niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP HCM và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.
- (*): Tài sản là tổng giá trị cổ phiếu nắm giữ tại các công ty niêm yết, theo giá đóng cửa ngày giao dịch 29/12/2006.
- (**): Nắm giữ cổ phần tại nhiều công ty khác nhau đang niêm yết trên sàn.
http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F294C/
Trên đây là 100 người giàu nhất trên sàn chứng khoán...còn những người giàu từ nguồn khác thì em tìm ko ra, các anh giúp em nhá....
Tốt quá rồi theboylove! Chúc mừng em! Anh nghĩ là Admin của CTO sẽ phải nghĩ ra cách gì đó để trao thưởng cho những tài năng như thế này sau mỗi một định kỳ OFFLINE chẳng hạn! :haha:
Bi giờ tới bí ẩn gần gũi nhất mà có người đã dành cả cuộc đời của mình để đi tìm!
Sự thật 2 tiếng
"Việt Nam"
có từ khi nào và do ai đặt?
Việt Nam
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của lãnh thổ nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa; nhà Thanh đổi ngược lại để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804.
Tuy nhiên, tên gọi "Việt Nam" có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).
Mọi thắc mắc xin tham khảo link http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_hi%E1%BB%87u_Vi%E1%BB%87t_Nam để biết thêm chi tiết !
:P
Mới quanh quẩn dạo quanh các Viet Web , lại đọc được 1 bài hay hay, mọi người bùn bùn thì đọc tham khảo ,xem như nạp thêm 1 mảnh tin tức nữa vào bộ nhớ của mình nhen :P
Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cho biết, ông và một số đồng nghiệp đã phát hiện tổng số 12 bia niên đại thế kỷ 16, 17 có hai tiếng Việt Nam. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ từ năm 1752 cũng có danh xưng Việt Nam. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và theo ông Giác Hải, Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là người đầu tiên sử dụng tên gọi này như quốc hiệu.
* Vì sao ông lại quan tâm đến vấn đề này?
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải: Cách đây nhiều năm, tôi tình cờ đọc được một thắc mắc đăng trên báo quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ. Câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng tôi dám chắc phần lớn học sinh trung học, thậm chí đại học không trả lời được, vì đại đa số các sách giáo khoa của chúng ta không đề cập đến vấn đề này, còn tại sao thì xin dành cho các nhà biên soạn sách và các sử gia.
Ngay cuốn Lịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản năm 1976 cũng không hề nói tới điều này. Còn cuốn Bách khoa toàn thư Anh (1992) thì cho nhận định, hai tiếng Việt Nam bắt đầu từ thời Nguyễn do việc nhà Thanh bên Trung Hoa năm 1804 đã đảo ngược hai chữ Nam Việt mà Gia Long đề nghị sắc phong năm 1802. Điều này quả cũng có thực. Trong cuốn chính sử nhà Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất ký có ghi lại sự kiện này.
* Chính sử thời ấy đã khá rõ ràng, vì sao ông, một nhà nghiên cứu về sinh học và ngoại cảm lại không bằng lòng với cách giải thích này?
- Năm 1974, khi công tác ở Viện Khoa học Việt Nam, tôi bắt đầu nghiên cứu về ngoại cảm, về khoa học dự báo và tôi có được đọc tập sách dự báo Sấm Trạng Trình, được coi là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Khi nghiên cứu tập sấm này, đến bản AB 444 trong kho sách của Viện Hán Nôm, tôi bất đồ tìm thấy hai chữ Việt Nam ngay trong những dòng đầu tiên: Việt Narn khởi tổ xây nền. Theo quan niệm chính thống, hai chữ Việt Nam không được phép có mặt trước năm 1804, trong khi cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống cách ta 500 năm. Vấn đề đặt ra là có thật hai chữ Việt Nam đã được dùng cách đây hơn 500 năm để chỉ tên gọi đất nước? Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm còn những ai đã dùng danh xưng Việt Nam? Liệu có những bằng chứng khảo cổ về vấn đề này? Song lúc đó không có điều kiện tiếp xúc với bản gốc nên phải tạm gác lại. Đến 1980, khi được tiếp xúc với bản gốc, tôi đã dành hơn 20 năm nay để nghiên cứu. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ 19), thì từ thời nhà Trần, tiến sĩ Hồ Tông Thốc đã viết bộ sách Việt Nam thế chí. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, trong thế kỷ 15 cũng đã nhiều lần nhắc đến hai tiếng Việt Nam. Song đáng tiếc, Việt Nam thế chí không còn nữa, chỉ còn được dẫn bài tựa trong Lịch triều hiến chương loại chí; còn Dư địa chí chỉ được khắc ván in ở thế kỷ 19 khi đã có quốc hiệu Việt Nam rồi, những bản trước không có niên hiệu rõ ràng.
* Ông có thể nói rõ hơn về quá trình tìm kiếm nguồn gốc tên gọi đất nước?
- Sau khi đọc được bản gốc Sấm Trạng Trình, tôi đã khẳng định được hai tiếng Việt Nam đã được sử dụng từ thế kỷ 15. Song bản sấm này được truyền lại qua những bản chép tay, cũng không ai dám chắc tác giả là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi liền chuyển qua tra cứu thơ văn của cụ để so sánh. Thật bất ngờ, hai tiếng Việt Nam được cụ nhắc tới bốn lần: Trong tập thơ Sơn hà hái động thường vịnh (Vịnh về núi non sông biển) đã đề cập tới. Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng Giáp Hải, cụ có viết: "Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại, Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam"; còn trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến, "Tiền đồ vĩ đại quân tu ký / Thùy thị công danh trọng Việt Nam".
Dẫu sao, đó cũng mới chỉ là những văn bản chép tay. Để khẳng định thêm, tôi đã đi tìm trong bi ký (bài ký trên bia đá). Nhờ một số nhà khoa học Viện Hán Nôm, tôi đã tìm ra trong bia trùng tu chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh) năm 1664, phần bài Minh có câu Việt Nam cảnh giới, Kinh Bắc thừa tuyên. Sau đó là bia trùng tu chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ, bia chùa Cam Lộ (Hà Tây), năm 1590, Chân Việt Nam chi đệ nhất. Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là tấm bia Thủy Môn Đình ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ tám (1670), có câu : Việt Nam hầu thiệt trấn bắc ải quan (Cửa ải phía Bắc Việt Nam). Đây là tấm bia có niên đại muộn hơn song nó có danh tính người soạn, hơn nữa đây là một mệnh quan triều đình, là phát ngôn chính thức.
Cho đến nay, sau tôi một số nhà nghiên cứu khác đã phát hiện tổng số 12 bia có hai tiếng Việt Nam. Tất cả đều có niên đại thế kỷ 16, 17. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ có danh xưng Việt Nam năm 1752. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng, sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất.
* Theo những nghiên cứu của ông, có thể lý giải vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm là nguời đầu tiên sử dụng hai tiếng Việt Nam?
- Dân tộc ta bắt nguồn từ một bộ tộc Việt trong Bách Việt - chỉ tất cả các dân tộc phía nam Trung Hoa. Trong toàn bộ lịch sử, ta luôn dùng tử việt, để chỉ dân tộc và đất nước ta. Song cha ông ta cũng dùng từ "Nam" với ý nghĩa tương tự. Bài thơ Thần-tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Lý Thường Kiệt viết: Nam quốc sơn hà nam đế cư. Từ Nam được dùng với nghĩa phương Nam để đối lại với phương Bắc (Trung Quốc). Trong thế kỷ 18, danh y Tuệ Tĩnh khi viết bộ sách khảo cứu về cây thuốc nước ta, lấy tên là Nam dược thần hiệu. Ngày nay ta vẫn nói thuốc nam-thuốc bắc.
Vì sao có thể coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng Việt Nam như là quốc hiệu? Thế kỷ 15, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh bên Trung Quốc lấy cớ đem quân can thiệp. Nhà Mạc đầu hàng, Đại Việt lúc đó bị biến thành một quận của Trung Quốc, không còn quốc hiệu. Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam đô sứ ty. Trên thực tế Mạc Đăng Dung vẫn là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học giả đứng đầu cả nước, nên nhiều khả năng ông đặt ra cách gọi này.
Do Trạng Trình được coi là một nhà tiên tri lỗi lạc, cũng có người muốn thần bí hóa bằng cách giải thích: Do nhìn thấy trước việc nhà Thanh phong vương cho Gia Long và gọi nước ta là Việt Nam nên ông đã gọi trước tên nước là Việt Nam để tránh sự lúng túng cho hậu thế: Tên gọi là do ngoại quốc áp đặt. Trên thực tế, vài chục năm sau, nhà Nguyễn để tránh bị phụ thuộc đã đổi tên nước là Đại Nam.
Dù giải thích thế nào, thì quốc hiệu Việt Nam cũng được Trạng Trình sử dụng đầu tiên, nhiều nhất và có ý thức nhất. Từ nguồn gốc này, lịch sử quốc hiệu đất nước không còn phụ thuộc vào hai triều đại phong kiến nữa.
* Nhân đây, ông có thể giải thích thế nào là quốc danh, quốc hiệu?
- Các tên gọi Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Việt... đều được các sử gia sử dụng làm quốc hiệu. Còn các học giả xưa vẫn viết "Ngã Việt quốc, ngã Nam nhân" (Nước Việt ta, người Việt ta). Hai tiếng Việt Nam, qua các thư tịch cổ thì mới chỉ là quốc danh, song rất hạn chế. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tên gọi Việt Nam chính thức thành tên gọi đất nước (quốc danh). Hiến pháp 1946 viết "Nước Việt Nam là một nước theo chế độ dân chủ cộng hòa". Như vậy, Việt Nam dân chủ cộng hòa mới trở thành quốc hiệu, đến nay 1976 quốc hiệu này được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nguyễn Phúc Giác Hải, nhà sinh học trở thành chủ nhiệm môn Khoa học Dự báo
Xuất thân là dân sinh vật học, sau khi ra trường, Nguyễn Phúc Giác Hải về dạy ở Trường Bổ túc văn hóa Trung ương, Trường Trung cấp sư phạm Trung ương, năm 1964, ông về Viện Khoa học Việt Nam nghiên cứu di truyền học.
Sau thời gian nghỉ việc tới năm 1990 ông trở lại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia), làm đúng công việc từng khiến ông phải ra đi: Nghiên cứu ngoại cảm. Hiện giờ, Nguyễn Phúc Giác Hải đang là chủ nhiệm bộ môn Khoa học Dự báo (Dự báo học) thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. "Tôi phải cảm ơn số phận, nhờ có 14 năm long đong, tôi có điều kiện tự do nghiên cứu những gì mình thích. Nếu như cuộc đời cứ bình lặng, có lẽ tôi đã đi sâu nghiên cứu về di truyền, làm vài công trình, rồi bảo vệ luận án... Nếu không đi sâu tìm hiểu về ngoại cảm, có lẽ tôi đã không đọc sấm trạng Trình và cũng chẳng tìm ra nguồn gốc hai tiếng Việt Nam và cũng chẳng dính dáng gì đến Khoa học Dự báo" - ông tâm sự.
Còn một năm nữa, ông sẽ bước sang tuổi "cổ lai hy". Ông đang chạy đua với thời gian để hoàn chỉnh bốn nghiên cứu mới của mình: Mã số vũ trụ; Những vấn đề bí ẩn về hoạt động của bộ não; kinh dịch dưới ánh sáng của khoa học; Dự báo học và những nhà tiên tri xuyên thế kỷ. Còn trước mắt, ông sẽ cho ra đời cuốn sách "Đi tìm cội nguồn tên gọi đất nước: Hai tiếng Việt Nam có từ bao giờ?
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20030314121732
Hoan hô! Nhanh thật! Mình thích những câu trả lời tích tắc như thế này!
Aki trả lời đúng một phần rồi đó!
Nhưng vẫn chưa lột tả được cái làm mọi người ngạc nhiên về sự ra đời của quốc hiệu "Việt Nam"!
Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là người đầu tiên!
Do có sự sai lệnh về thời gian post bài nên đã không thấy bài thứ 2 của Aki! :haha:
Tuyệt vời! Mình đợi câu trả lời này!
Nhưng Aki có biết điều gì đặc biệt không?
Điều gì đặc biệt khiến anh Tưởng phải đặt 1 câu hỏi nghi vấn cho Aki nhỉ ?
< Aki đang im lặng & lắng nghe đây !>
2 tiếng Việt Nam trìu mến của chúng ta đặc biệt ở chổ có một nguồn gốc xuất xứ rất lý thú! :haha: Chính anh cũng ngạc nhiên khi đọc bài này:
Một số người cho rằng nguồn gốc của các dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ các dân tộc cổ đại sinh sống trên lục địa Trung Hoa, hoặc cao nguyên Tây Tạng, một số khác cho rằng nguồn gốc chính từ người Việt bản địa. Nhưng căn cứ vào các kết quả nghiên cứu gần đây, xem xét sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói rằng tất cả các dân tộc Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc, đó là chủng Cổ Mã Lai. Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:
1. Theo các nhà nhân chủng học, nếu phân chia theo hình dáng thì loài người được chia thành bốn đại chủng, đó là: Đại chủng Âu (Caucasoid), Đại chủng Phi (Negroid), Đại chủng Á (Mongoloid), Đại chủng Úc (Australoid, hay còn gọi là Đại chủng Phương Nam). Vào thời kỳ đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm trước đây), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien). Người Cổ Mã Lai có nước da ngăm đen, tóc quăn gợn sóng, tầm vóc thấp. Người Cổ Mã Lai từ vùng Đông Dương lan tỏa về hướng bắc tới sông Dương Tử; về phía tây tới Ấn Độ, về phía nam tới các đảo của Indonesia, về phía đông tới Philippines.
2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng (khoảng 5.000 năm trước đây). Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique). Do hai lần hòa nhập với Đại chủng Á mà chủng Nam Á có những nét đặc trưng nổi trội của Đại Chủng Á hơn là những nét đặc trưng của Đại chủng Úc. Cũng chính vì thế chủng Nam Á được liệt vào một trong những bộ phận của Đại chủng Á.
3. Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Thực ra không có đến một trăm (Bách) dân tộc nhưng quả thật đó là một cộng đồng dân cư rất đông đúc bao gồm: Điền Việt (cư trú tại Vân Nam, Trung Quốc), Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt (cư trú tại Quảng Đông, Trung Quốc), Lạc Việt (cư trú tại Quảng Tây, Trung Quốc và Bắc bộ, Việt Nam),... sinh sống từ vùng nam sông Dương Tử (Trung Quốc) cho đến Bắc bộ (Việt Nam). Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khơ me, Việt-Mường, Tày-Thái, Mèo-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm (xem hình vẽ).
Em xem tiếp nhé! Có hình minh họa rất chi tiết:
(http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_t%E1%BB%99c_Vi%E1%BB%87t_Nam)
Vào thời kỳ đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm trước đây), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien).
Em chú ý từ "Indonésien" này và nếu hôm nào rảnh, em ghé thăm Khu du lịch Mỹ Khánh ở Cái Răng, Cần Thơ mình, em sẽ thấy ngôi nhà cổt Việt Nam, ở đó có nhiều dấu tích về từ "Indonésien", cụ thể là tiền. Em khám phá nhé!
Thông tin này giải thích anh thấy rõ ràng nhất về 2 từ "Việt" và "Nam":
- Dân tộc ta bắt nguồn từ một bộ tộc Việt trong Bách Việt - chỉ tất cả các dân tộc phía nam Trung Hoa. Trong toàn bộ lịch sử, ta luôn dùng tử việt, để chỉ dân tộc và đất nước ta. Song cha ông ta cũng dùng từ "Nam" với ý nghĩa tương tự. Bài thơ Thần-tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Lý Thường Kiệt viết: Nam quốc sơn hà nam đế cư. Từ Nam được dùng với nghĩa phương Nam để đối lại với phương Bắc (Trung Quốc). Trong thế kỷ 18, danh y Tuệ Tĩnh khi viết bộ sách khảo cứu về cây thuốc nước ta, lấy tên là Nam dược thần hiệu. Ngày nay ta vẫn nói thuốc nam-thuốc bắc.
Vì sao có thể coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng Việt Nam như là quốc hiệu? Thế kỷ 15, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh bên Trung Quốc lấy cớ đem quân can thiệp. Nhà Mạc đầu hàng, Đại Việt lúc đó bị biến thành một quận của Trung Quốc, không còn quốc hiệu. Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam đô sứ ty. Trên thực tế Mạc Đăng Dung vẫn là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học giả đứng đầu cả nước, nên nhiều khả năng ông đặt ra cách gọi này.
Và cuối cùng thông tin được nhiều người công nhận nhất là:
Do Trạng Trình được coi là một nhà tiên tri lỗi lạc, cũng có người muốn thần bí hóa bằng cách giải thích: Do nhìn thấy trước việc nhà Thanh phong vương cho Gia Long và gọi nước ta là Việt Nam nên ông đã gọi trước tên nước là Việt Nam để tránh sự lúng túng cho hậu thế: Tên gọi là do ngoại quốc áp đặt. Trên thực tế, vài chục năm sau, nhà Nguyễn để tránh bị phụ thuộc đã đổi tên nước là Đại Nam.
(có thể tìm bằng từ khóa "Sấm Trạng Trình")
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BA%A5m_Tr%E1%BA%A1ng_Tr%C3%ACnh
(Câu thứ 7 của bài thơ có từ "Việt Nam")
Bây giờ chúng ta tiếp nhé! Mấy hôm nay anh bận quá! Nào ẩn số tiếp theo chúng ta cần tìm là:
"Nhãn hiệu bánh ngọt nào nổi tiếng nhất thế giới?
Bạn biết gì về cái tên của thương hiệu này?"
alextrunghuynh
20-06-2007, 01:57
mấy cái này anh lấy được từ Wiki ở đâu hay thế nhở? Tài năng CTO chắc có anh thôi :D
Nhãn hiệu bánh ngọt nổi tiếng nhất thế giới: nhớ là của Fáp, hồi trước giải fóng ông bà hay gọi là bánh Lu :D hình như vậy!
mấy cái này anh lấy được từ Wiki ở đâu hay thế nhở? Tài năng CTO chắc có anh thôi :D
Nhãn hiệu bánh ngọt nổi tiếng nhất thế giới: nhớ là của Fáp, hồi trước giải fóng ông bà hay gọi là bánh Lu :D hình như vậy!
Vậy thì anh và alex_trung_huynh phải chờ xem giải đáp của những tài năng khác rồi! :haha:
DHNguyen
14-08-2007, 02:25
Sô-cô-la (xuất phát từ tiếng Pháp: chocolat; gốc tiếng Nahuatl: chocoatl, "thức uống cacao") là một từ được dùng để diễn tả một loại thức ăn (còn nguyên hay đã chế biến) được làm từ quả của cây cacao. Sô-cô-la là nguyên liệu cơ bản trong rất nhiều những loại kẹo, kẹo sô-cô-la, kem, bánh quy, bánh ngọt,... Hương vị sô-cô-la là một trong số những hương vị được yêu thích nhất trên thế giới.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f2/Chocolate.jpg/250px-Chocolate.jpg
Sô-cô-la được làm từ những hạt của cây cacao (tên khoa học là Theobroma cacao, trong tiếng Hy Lạp Theobroma có nghĩa là "thức ăn của các vị thần"[1]) được sấy khô và nghiền nhỏ. Nguồn gốc của cây cacao là từ Trung Mỹ và Mexico, được những người Maya và Aztec bản xứ khám phá, nhưng ngày nay hầu hết những nước nhiệt đới đều có thể trồng được loại cây này. Những hạt cây cacao có một mùi vị đặc trưng (hơi đắng). Kết quả của quá trình đó được biết đến với tên gọi là "sô-cô-la", hay ở một số vùng khác trên thế giới là "cocoa".
Sản phẩm từ hạt cacao được biết đến với những tên gọi khác nhau tại những vùng khác nhau trên Trái Đất. Đối với những nhà công nghiệp ở Bắc Mỹ phân loại các sản phẩm của cacao như sau:
Cacao là phần nhân đặc của hạt
Bơ cacao là phần chất béo bên trong hạt
Sô-cô-la là hỗn hợp giữa hai thành phần trên
Sô-cô-la là hỗn hợp giữa cocoa và bơ cacao, được cho thêm đường và những chất khác vào, cuối cùng được đóng thành dạng những thanh. Sô-cô-la còn có thể được chế thành thức uống (được gọi là cacao hay sô-cô-la nóng). Thức uống như thế đầu tiên được người Aztec và người Maya phát minh ra đầu tiên rồi được lan truyền rộng rãi khắp châu Âu.
Sô-cô-la nóng với lớp kem ở trênSô-cô-la còn được đóng thành những dạng hình thù khác nhau, từ người, thú vật, đồ vật để chào mừng những sự kiện khác nhau như hình con thỏ hay trứng cho ngày lễ Phục Sinh, hình ông già Noel cho ngày lễ Giáng Sinh, và hình trái tim cho ngày Valentine.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/Bowl_of_truffles.jpg/300px-Bowl_of_truffles.jpg
Phân loại
Kẹo sô-cô-la thường có một lớp vỏ kẹo bên ngoài và một lớp nhân mềm bên trong.Sô-cô-la là một trong những loại nguyên liệu phổ biến và có ở nhiều dạng khác nhau. Sự khác nhau về dạng và mùi vị là do sự pha trộn các thành phần khác nhau hay cũng có thể do nhiệt độ và thời gian nướng hạt cacao.
Sô-cô-la đắng, hay bột sô-cô-la: là loại sô-cô-la nguyên chất, đậm mùi và có vị đắng tự nhiên của cây cacao. Sau khi được trộn với đường, nó là nguyên liệu của những sản phẩm bánh có chứa sô-cô-la khác như bánh ngọt, bánh quy,...
Sô-cô-la đen là sô-cô-la không pha lẫn sữa. Đôi khi nó còn được gọi là "sô-cô-la nguyên chất". Chính phủ Hoa Kì quy định phải có ít nhất 15% chất sô-cô-la đặc, còn ở châu Âu thì quy định là 35%
Sô-cô-la sữa là sô-cô-la được pha lẫn với bột sữa hay sữa đặc nhằm tạo vị ngọt. Chính phủ Mỹ quy định ít nhất phải có ít nhất 10% chất sô-cô-la đặc, còn EU thì quy định là 25%
Sô-cô-la ngọt vừa thường được dùng trong nấu ăn. Nó chính là sô-cô-la đen với hàm lượng đường rất cao bên trong.
Sô-cô-la ngọt đắng là một loại sô-cô-la chứa đường, nhiều bơ cocoa hơn, ngoài ra còn chứa thêm lecithin và vani. Rất nhiều hãng sản xuất thường ghi trên bao bì hàm lượng cocoa chứa bên trong. Có một quy luật như sau: càng nhiều cocoa thì sô-cô-la sẽ càng đắng.
Couverture là một loại sô-cô-la chứa nhiều bơ cocoa hơn. Những loại này có chứa rất nhiều cocoa (hơn 70%) và có hàm lượng chất béo cao (30-40%)
Sô-cô-la trắng là bơ cocoa được pha chế mà không có cocoa đặc
Bột cocoa là loại cocoa đặc gần như nguyên chất mà không có bơ cocoa. Bột cocoa có màu nhạt, có tính axit và mùi sô-cô-la rất mạnh. Người ta thường dùng bột cocoa khi làm bánh cùng với bột nở. Do bột nở là một loại baz nên chúng sẽ giúp cho bánh có độ xốp. Bột cocoa có thể được chế tạo theo hai trường phái: tự nhiên hay theo kiểu Hà Lan. Bột cocoa kiểu Hà Lan thường được xử lí với kiềm trước khi thành phẩm nên người ta thường dùng nó để làm những thức uống mặc dù quá trình xử lý đó phần nào đã phá hỏng hương vị của sô-cô-la.[2]
Hỗn hợp là một từ chuyên môn được dùng để chỉ hỗn hợp cocoa với chất béo thực vật thay cho bơ cocoa. Loại này thường được dùng để bao phủ những thanh kẹo sô-cô-la thành phẩm, nhưng ở Hoa Kì, nó cũng được dùng để làm những thanh kẹo sô-cô-la.
Những hương vị khác nhau như bạc hà, cam, dâu, thường được thêm vào kẹo. Ngoài ra, những thành phần phụ thường thấy như đậu phộng, điều, trái cây, caramel,...
Định nghĩa
Nếu nói theo một cách chặt chẽ, sô-cô-la là những sản phẩm chứa 99% chất cocoa đặc và/hoặc bơ cocoa. Bởi vì chúng được dùng rất nhiều trong những loại thức ăn khác nhau, sự giảm giá thành của sô-cô-la sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền công nghiệp. Vì thế, người ta thường thêm vào những gia vị, thành phần khác nhau có tác dụng thay thế cocoa, hay thay thế cocoa đặc và cocoa bơ bằng những nguyên liệu khác rẻ tiền hơn. Vì vậy, có những bất đồng ngay trong các nước EU về vấn đề định nghĩa sô-cô-la.
Một số người muốn áp dụng định nghĩa trên một cách chặt chẽ cho tất cả các loại sô-cô-la. Khi đó, sô-cô-la thành phẩm có dạng như những mảnh bơ thực vật có mùi, màu nâu đậm. Ở một số quốc gia yêu cầu phải chứa trên 50-70% sô-cô-la đặc, không có chất phụ gia khác. Tuy nhiên, sô-cô-la như trên rất khó tìm và có giá rất cao.
Một số khác thì tin rằng sô-cô-la chỉ mùi đặc trưng của sô-cô-la, được chiết xuất từ bơ cocoa hay cocoa đặc mà thôi, và ngay cả những hợp chất tạo mùi sô-cô-la nhân tạo. Những loại thức ăn mang mùi sô-cô-la thường có từ sô-cô-la đi kèm (như bánh sô-cô-la, kem sô-cô-la, sữa sô-cô-la...)
Những tập đoàn công nghiệp hiện nay có xu hướng thay thế lượng bơ cocoa trong kẹo sô-cô-la bằng cách sử dụng polyglycerol polyricinoleate (PGPR), vốn là một chất dẫn xuất từ dầu bôi trơn nhằm giả lập cảm giác ở miệng khi tiếp xúc với chất béo.
Các nhãn hiệu Sô-cô-la nổi tiếng
Cadbury Schweppes
Fazer
Godiva
Hershey
Mars
Nestlé
Tại Việt Nam:
Nhà máy Bánh kẹo Quảng Ngãi (Biscafun)
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4-c%C3%B4-la
Cám ơn bạn!
Lu bu quá nên không còn thời gian ghé thăm CTO nữa!
Mở mail lên thì thấy có người reply cho topic, mừng quá!
Thật vui! Nhớ lại thời xưa quá!
Tiếc là không còn nhiều thời gian cùng các bạn nữa! Tiếp tục đi nhé!
Nói đến Sô-cô-la thì ở nước nào họ cũng biết cả! Thật là nổi tiếng phải ko?
Có thời gian bạn tiếp tục nhé!
Ai đã phát minh ra Máy Vi Tính?
Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì nó phụ thuộc vào cách định nghĩa Máy Vi Tính
* Nếu hiểu Máy Vi Tính là một máy tính nhỏ thì máy Kenbak do Jonh V.Blankenbaker chế tạo năm 1971 sẽ được coi là chiếc Máy Vi Tính đầu tiên
Máy Kenbak chế tạo từ 130 mạch tổ hợp IC nhưng thực chất nó chỉ là một máy tính cỡ nhỏ . Nó có thể thực hiện 1.000 lệnh/giây giá 750 USD (thời điểm 1971)
*Nếu coi máy vi tính là một máy tính nhỏ sử dụng bộ vi xử lí phổ biến hiện nay thì do một người Việt quốc tính Pháp chế tạo ra vào năm 1973 chỉ sáu tháng sau khi xuất hiện bộ vi xử lý. Đó là ông Adre Trương Trọng Thi và chiếc máy Micral của hãng R3E .
Năm 1975 một chiếc máy khác cũng sử dụng bộ vi xử lí, đó là chiếc Altair 8.800 của một hãng Mỹ chế tạo .
Năm 1985 nhà bảo tàng máy tính ở Boston đã tìm hiểu xem ai là người phát minh ra máy vi tính đầu tiên nhưng không xác định được một cách chính xác.Vì vậy giải thưởng được trao cho ba máy tính nói trên.
Máy Kenbak được coi là mô hình máy tính nhỏ đầu tiên
Máy Micral được coi là mô hình máy tính thương mại hoàn chỉnh đầu tiên có sử dụng bộ vi xử lý.
Vì vậy,không phảI không có lý khi coi ông Andre Trương Trọng Thi là người đầu tiên phát minh ra Máy Vi Tính
Bài này của mình mà ? Bài này mình dịch ra từ tài liệu sách Anh văn đã học, trong đó có bài ai là người phát minh ra đĩa mềm :drool: Hồi trước có gửi eChip rùi :cataugly:
Sô-cô-la (xuất phát từ tiếng Pháp: chocolat; gốc tiếng Nahuatl: chocoatl, "thức uống cacao") là một từ được dùng để diễn tả một loại thức ăn (còn nguyên hay đã chế biến) được làm từ quả của cây cacao. Sô-cô-la là nguyên liệu cơ bản trong rất nhiều những loại kẹo, kẹo sô-cô-la, kem, bánh quy, bánh ngọt,... Hương vị sô-cô-la là một trong số những hương vị được yêu thích nhất trên thế giới.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/f/f2/Chocolate.jpg/250px-Chocolate.jpg
Sô-cô-la được làm từ những hạt của cây cacao (tên khoa học là Theobroma cacao, trong tiếng Hy Lạp Theobroma có nghĩa là "thức ăn của các vị thần"[1]) được sấy khô và nghiền nhỏ. Nguồn gốc của cây cacao là từ Trung Mỹ và Mexico, được những người Maya và Aztec bản xứ khám phá, nhưng ngày nay hầu hết những nước nhiệt đới đều có thể trồng được loại cây này. Những hạt cây cacao có một mùi vị đặc trưng (hơi đắng). Kết quả của quá trình đó được biết đến với tên gọi là "sô-cô-la", hay ở một số vùng khác trên thế giới là "cocoa".
Sản phẩm từ hạt cacao được biết đến với những tên gọi khác nhau tại những vùng khác nhau trên Trái Đất. Đối với những nhà công nghiệp ở Bắc Mỹ phân loại các sản phẩm của cacao như sau:
Cacao là phần nhân đặc của hạt
Bơ cacao là phần chất béo bên trong hạt
Sô-cô-la là hỗn hợp giữa hai thành phần trên
Sô-cô-la là hỗn hợp giữa cocoa và bơ cacao, được cho thêm đường và những chất khác vào, cuối cùng được đóng thành dạng những thanh. Sô-cô-la còn có thể được chế thành thức uống (được gọi là cacao hay sô-cô-la nóng). Thức uống như thế đầu tiên được người Aztec và người Maya phát minh ra đầu tiên rồi được lan truyền rộng rãi khắp châu Âu.
Sô-cô-la nóng với lớp kem ở trênSô-cô-la còn được đóng thành những dạng hình thù khác nhau, từ người, thú vật, đồ vật để chào mừng những sự kiện khác nhau như hình con thỏ hay trứng cho ngày lễ Phục Sinh, hình ông già Noel cho ngày lễ Giáng Sinh, và hình trái tim cho ngày Valentine.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/2/2b/Bowl_of_truffles.jpg/300px-Bowl_of_truffles.jpg
Phân loại
Kẹo sô-cô-la thường có một lớp vỏ kẹo bên ngoài và một lớp nhân mềm bên trong.Sô-cô-la là một trong những loại nguyên liệu phổ biến và có ở nhiều dạng khác nhau. Sự khác nhau về dạng và mùi vị là do sự pha trộn các thành phần khác nhau hay cũng có thể do nhiệt độ và thời gian nướng hạt cacao.
Sô-cô-la đắng, hay bột sô-cô-la: là loại sô-cô-la nguyên chất, đậm mùi và có vị đắng tự nhiên của cây cacao. Sau khi được trộn với đường, nó là nguyên liệu của những sản phẩm bánh có chứa sô-cô-la khác như bánh ngọt, bánh quy,...
Sô-cô-la đen là sô-cô-la không pha lẫn sữa. Đôi khi nó còn được gọi là "sô-cô-la nguyên chất". Chính phủ Hoa Kì quy định phải có ít nhất 15% chất sô-cô-la đặc, còn ở châu Âu thì quy định là 35%
Sô-cô-la sữa là sô-cô-la được pha lẫn với bột sữa hay sữa đặc nhằm tạo vị ngọt. Chính phủ Mỹ quy định ít nhất phải có ít nhất 10% chất sô-cô-la đặc, còn EU thì quy định là 25%
Sô-cô-la ngọt vừa thường được dùng trong nấu ăn. Nó chính là sô-cô-la đen với hàm lượng đường rất cao bên trong.
Sô-cô-la ngọt đắng là một loại sô-cô-la chứa đường, nhiều bơ cocoa hơn, ngoài ra còn chứa thêm lecithin và vani. Rất nhiều hãng sản xuất thường ghi trên bao bì hàm lượng cocoa chứa bên trong. Có một quy luật như sau: càng nhiều cocoa thì sô-cô-la sẽ càng đắng.
Couverture là một loại sô-cô-la chứa nhiều bơ cocoa hơn. Những loại này có chứa rất nhiều cocoa (hơn 70%) và có hàm lượng chất béo cao (30-40%)
Sô-cô-la trắng là bơ cocoa được pha chế mà không có cocoa đặc
Bột cocoa là loại cocoa đặc gần như nguyên chất mà không có bơ cocoa. Bột cocoa có màu nhạt, có tính axit và mùi sô-cô-la rất mạnh. Người ta thường dùng bột cocoa khi làm bánh cùng với bột nở. Do bột nở là một loại baz nên chúng sẽ giúp cho bánh có độ xốp. Bột cocoa có thể được chế tạo theo hai trường phái: tự nhiên hay theo kiểu Hà Lan. Bột cocoa kiểu Hà Lan thường được xử lí với kiềm trước khi thành phẩm nên người ta thường dùng nó để làm những thức uống mặc dù quá trình xử lý đó phần nào đã phá hỏng hương vị của sô-cô-la.[2]
Hỗn hợp là một từ chuyên môn được dùng để chỉ hỗn hợp cocoa với chất béo thực vật thay cho bơ cocoa. Loại này thường được dùng để bao phủ những thanh kẹo sô-cô-la thành phẩm, nhưng ở Hoa Kì, nó cũng được dùng để làm những thanh kẹo sô-cô-la.
Những hương vị khác nhau như bạc hà, cam, dâu, thường được thêm vào kẹo. Ngoài ra, những thành phần phụ thường thấy như đậu phộng, điều, trái cây, caramel,...
Định nghĩa
Nếu nói theo một cách chặt chẽ, sô-cô-la là những sản phẩm chứa 99% chất cocoa đặc và/hoặc bơ cocoa. Bởi vì chúng được dùng rất nhiều trong những loại thức ăn khác nhau, sự giảm giá thành của sô-cô-la sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nền công nghiệp. Vì thế, người ta thường thêm vào những gia vị, thành phần khác nhau có tác dụng thay thế cocoa, hay thay thế cocoa đặc và cocoa bơ bằng những nguyên liệu khác rẻ tiền hơn. Vì vậy, có những bất đồng ngay trong các nước EU về vấn đề định nghĩa sô-cô-la.
Một số người muốn áp dụng định nghĩa trên một cách chặt chẽ cho tất cả các loại sô-cô-la. Khi đó, sô-cô-la thành phẩm có dạng như những mảnh bơ thực vật có mùi, màu nâu đậm. Ở một số quốc gia yêu cầu phải chứa trên 50-70% sô-cô-la đặc, không có chất phụ gia khác. Tuy nhiên, sô-cô-la như trên rất khó tìm và có giá rất cao.
Một số khác thì tin rằng sô-cô-la chỉ mùi đặc trưng của sô-cô-la, được chiết xuất từ bơ cocoa hay cocoa đặc mà thôi, và ngay cả những hợp chất tạo mùi sô-cô-la nhân tạo. Những loại thức ăn mang mùi sô-cô-la thường có từ sô-cô-la đi kèm (như bánh sô-cô-la, kem sô-cô-la, sữa sô-cô-la...)
Những tập đoàn công nghiệp hiện nay có xu hướng thay thế lượng bơ cocoa trong kẹo sô-cô-la bằng cách sử dụng polyglycerol polyricinoleate (PGPR), vốn là một chất dẫn xuất từ dầu bôi trơn nhằm giả lập cảm giác ở miệng khi tiếp xúc với chất béo.
Các nhãn hiệu Sô-cô-la nổi tiếng
Cadbury Schweppes
Fazer
Godiva
Hershey
Mars
Nestlé
Tại Việt Nam:
Nhà máy Bánh kẹo Quảng Ngãi (Biscafun)
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4-c%C3%B4-la
Chocolate ( sô cô la ) là 1 nhãn hiệu bánh ngọt :huh::huh:
tieu_long_kom
13-03-2008, 13:41
sao lâu ròi ko thấy chơi cái nì tiếp vậy mấy anh?
cũng thú vị mà
minhhieu_tran
13-03-2008, 14:00
theo tôi là đức phát và bánh mì ngọt lá nỗi tiếng nhất. vì nó là thường sử dụng nhất ở cần thơ, chứ mấy bánh kia, chỉ nghe thôi chứ hok được ăn. :D
vBulletin® v3.8.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.